Hedera và HBAR: khi nào giao dịch của bạn không thể đảo ngược?
Một mạng nói mình không dùng khối. Bài này kiểm tra câu đó bằng số đọc được từ API công khai, rồi xem đồng coin đứng ở đâu trong thiết kế.
| Người đọc hay hỏi | Trả lời gọn |
|---|---|
| Hedera là gì | Một mạng sổ cái công khai. HBAR là đồng coin gốc dùng để trả phí và để staking trong mạng đó. |
| Vì sao tài liệu của mạng nói đây không phải blockchain | Vì mạng không gom giao dịch thành khối rồi nối khối này vào sau khối kia. Đó là một sự thật về cấu trúc dữ liệu, không phải bằng chứng cho thấy thiết kế này hay hơn. |
| Giao dịch chốt vào lúc nào | Thứ tự và dấu thời gian được xác định theo quy tắc, chờ thêm cũng không làm nó đổi. Ở nhóm Bitcoin thì mỗi khối mới chỉ làm khả năng đảo ngược nhỏ đi. |
| Đổi lại phải trả giá gì | Danh sách node đồng thuận là danh sách đóng. Node do các thành viên hội đồng vận hành, và tên đơn vị vận hành nằm ngay trong API công khai. |
| Có khai thác được HBAR không | Không. Toàn bộ 50 tỷ HBAR ra đời một lần lúc mạng khởi chạy, mạng không trả phần thưởng khối nên cũng không có chu kỳ chia đôi phần thưởng. |
| Staking hoạt động ra sao | Coin không rời tài khoản và không bị khóa, nhưng trần thưởng thấp và tiền thưởng lấy từ số dư của một tài khoản hệ thống. |
| Phí tính thế nào | Niêm yết bằng đô la, trả bằng HBAR. Doanh nghiệp dự tính được chi phí, còn người giữ coin thì gặp một câu hỏi khó. |
| Nhận định của tôi | Thiết kế này mua được sự chắc chắn về thứ tự giao dịch và bán đi quyền tham gia mở. Câu tôi chưa trả lời được là đồng coin thu về gì khi mạng chạy nhiều hơn. |
1. Con số 12/12 trên màn hình nạp tiền thật ra bảo đảm điều gì
2. Ở Việt Nam thì mua, chuyển và staking HBAR ra sao
3. Hedera chốt thứ tự bằng quy tắc, không phải bằng xác suất
4. Các node chuyển cho nhau cái gì, và vì sao không ai phải gửi phiếu bầu
5. Chịu được một phần ba nói dối, nhưng phải biết một phần ba của bao nhiêu
6. Từ vựng cần biết khi đọc tài liệu Hedera
7. Cái giá của quy tắc: danh sách node đồng thuận là danh sách đóng
8. Ai sửa được luật chơi, và mã nguồn hiện do ai giữ
9. Mạng bán ba dịch vụ, và bảng giá được niêm yết bằng đô la
10. Mạng được dùng nhiều hơn thì có cần nhiều HBAR hơn không?
11. 50 tỷ HBAR phát hành một lần: không đào, không chia đôi phần thưởng
12. Staking ở đây không khóa coin, nhưng trần thưởng đã bị chặn sẵn
13. Trần lý thuyết và con số tôi tự đo được từ mirror node
14. Những câu nghe quen về HBAR mà không đúng
15. Tôi nghĩ gì về thiết kế này, và chỗ tôi còn để ngỏ
Bạn vừa chuyển coin, sàn hiện dòng chữ đang chờ xác nhận, và bạn ngồi nhìn con số nhích từng chút. Đến lúc nào thì giao dịch của tôi chắc chắn không bị lật lại nữa? Mỗi mạng trả lời câu này một kiểu. Bài này đi lần lượt qua cách Hedera chốt thứ tự giao dịch, thứ mạng phải đánh đổi để chốt được như vậy, rồi tới chỗ đứng của đồng HBAR trong thiết kế đó. Mọi con số biến động đều do tôi tra trực tiếp từ mirror node công khai và gom vào một bảng duy nhất kèm mốc đo.

1. Con số 12/12 trên màn hình nạp tiền thật ra bảo đảm điều gì
Ai từng nạp coin lên sàn cũng gặp cảnh này. Tiền đã rời khỏi ví, màn hình hiện trạng thái đang chờ, kèm một con số kiểu 3/12 hoặc 20/64. Chỗ cũ đã trừ, chỗ mới chưa cộng. Bạn không làm gì được ngoài chờ.
Con số đó là số xác nhận, tức số khối đã được tạo thêm phía sau khối chứa giao dịch của bạn. Sàn đặt ra ngưỡng đó có lý do kỹ thuật. Ở những mạng dùng khối, người tạo ra khối là người quyết định thứ tự các giao dịch trong khối đó. Về nguyên tắc, vẫn có thể xuất hiện một nhánh khác dài hơn nhánh hiện tại, và khi nhánh dài hơn được chấp nhận thì khối chứa giao dịch của bạn bị đẩy ra ngoài. Giao dịch quay lại hàng chờ, hoặc biến mất luôn nếu người gửi đã tiêu số coin đó theo một cách khác trên nhánh mới.
Càng nhiều khối chồng lên thì khả năng nhánh khác vượt qua càng nhỏ. Nhưng nhỏ đi không có nghĩa là bằng không. Ở nhóm Bitcoin, mỗi xác nhận chỉ kéo khả năng bị lật lại xuống thấp hơn một chút, và con số đó không bao giờ chạm 0. Vậy nên khi màn hình nạp tiền hiện 12/12 hay 64/64, thứ bạn nhận được là mức rủi ro mà sàn đó thấy đủ nhỏ để ghi có cho tài khoản. Mỗi sàn tự chọn ngưỡng của mình, và bản thân mạng không ấn định con số nào cả.
Chuyện nhánh bị thay thế đã xảy ra thật, không phải chỉ có trên giấy. Litecoin từng có một lần chuỗi bị sắp xếp lại tới 13 khối. Bitcoin Cash từng bị 2 khối. Bạn có thể đọc lại bối cảnh của hai mạng đó ở bài Litecoin là gì và bài Bitcoin Cash là gì, còn cách hoạt động của lớp nền thì nằm ở bài Bitcoin là gì. Việc chuỗi bị sắp xếp lại như vậy nằm trong thiết kế của cả ba mạng chứ không phải sự cố, vì thiết kế đó để cho nhánh dài hơn quyết định thứ tự cuối cùng, nên trong một khoảng thời gian ngắn sau khi giao dịch lên khối, thứ tự vẫn còn có thể đổi.
Hedera trả lời câu hỏi mở đầu theo hướng ngược lại. Mạng này không có khối, không có nhánh, và cũng không có khái niệm chờ thêm cho chắc. Thứ tự của một giao dịch cùng với dấu thời gian của nó được xác định bằng một quy tắc tính toán, và khi quy tắc đó cho ra kết quả thì kết quả không được xem lại nữa. Phần còn lại của bài là đi tìm hai thứ: quy tắc đó chạy ra sao, và mạng đã đánh đổi cái gì để có được nó. Ai đang cần mua hoặc chuyển HBAR ngay thì đọc mục kế tiếp trước cũng được, phần cơ chế nằm ngay sau đó.
2. Ở Việt Nam thì mua, chuyển và staking HBAR ra sao
Phần này nói về đường đi thực tế. Tôi không viết lại hướng dẫn từng bước vì những việc đó đã có bài riêng, chỉ nêu những chỗ hay vướng.
Mua ở đâu. Đường đi quen thuộc của người Việt là dùng tiền đồng mua USDT trước, thường qua kênh P2P của sàn, rồi từ USDT chuyển sang cặp giao ngay HBAR/USDT. Trong danh sách cặp giao ngay tôi kiểm tra được và ghi lại ở phần thẻ bên dưới thì không có cặp nào ghép thẳng HBAR với tiền đồng, nên bước trung gian bằng USDT gần như luôn có. Tùy khu vực mà sản phẩm hiển thị trên màn hình của bạn sẽ khác nhau, nên hãy mở tài khoản của mình ra xem trực tiếp thay vì tin vào một danh sách chép lại. Cách nạp tiền và đặt lệnh thì giống hệt quy trình mua đồng khác, bài cách mua Bitcoin mô tả đúng quy trình đó, còn tiêu chí chọn sàn thì nằm ở bài sàn giao dịch tiền điện tử tốt nhất.
Rút về ví. Đây là chỗ hay xảy ra tai nạn nhất. Khi rút HBAR, bạn phải chọn đúng mạng Hedera trong ô chọn mạng. Ngoài ra, một số nơi nhận yêu cầu điền thêm một trường ghi chú kèm theo địa chỉ. Nếu màn hình nạp của bên nhận có ô đó mà bạn bỏ trống, tiền có thể vào sai chỗ hoặc phải nhờ hỗ trợ xử lý thủ công. Trước khi bấm xác nhận, đối chiếu ba thứ: mạng, địa chỉ, và trường ghi chú. Nếu đã lỡ gửi sai mạng, bài gửi crypto nhầm mạng nói rõ trường hợp nào còn cứu được và cần liên hệ theo hướng nào. Còn khi tiền đã rời ví mà tài khoản vẫn chưa cộng, bài nạp tiền chưa vào tài khoản liệt kê các nguyên nhân theo thứ tự nên kiểm tra.
Giữ ở đâu. Nếu bạn định trỏ tài khoản tới một node để nhận thưởng của mạng, cách làm được nói kỹ ở mục staking phía dưới, thì coin phải nằm trong một tài khoản trên mạng Hedera, tức là trong ví bạn tự giữ khóa, chứ không phải trong tài khoản sàn. Coin để trên sàn là coin do sàn giữ hộ, và việc trỏ node khi đó không nằm trong tay bạn. Cách phân biệt ví tự giữ khóa với tài khoản do bên thứ ba giữ được trình bày ở bài ví tiền mã hóa.
Về chuyện lãi. Một con số phần trăm gắn với HBAR trong ứng dụng sàn có thể là sản phẩm của sàn, cũng có thể là thưởng của mạng được sàn chuyển tiếp lại. Hai thứ này khác nhau về nguồn tiền và rủi ro, nên hãy đọc điều khoản trước khi bấm tham gia.
Binance
Bybit
MEXC
KuCoin
Thẻ ở trên ghi các cặp giao ngay tôi kiểm tra được tại thời điểm viết. Tôi không khẳng định thay bạn về những sàn không có trong danh sách, và cũng không khẳng định sàn nào an toàn.
3. Hedera chốt thứ tự bằng quy tắc, không phải bằng xác suất
Ở nhóm Bitcoin, thứ tự giao dịch được tạo ra theo từng vòng. Trong mỗi vòng, các máy đào cùng chạy một phép tính, máy nào ra kết quả hợp lệ trước thì máy đó gom giao dịch vào khối và phát khối đó ra mạng. Thứ tự các giao dịch bên trong khối do chính máy tạo khối sắp. Khối mới nối vào sau khối cũ, nên thứ tự chung của cả mạng bằng thứ tự của các khối cộng với thứ tự bên trong từng khối.
Hedera bỏ hẳn bước công bố khối. Không ai gom giao dịch lại rồi nối vào phía sau cái gì cả. Thay vào đó, các node liên tục gửi cho nhau dữ liệu chúng đang có, và trong mỗi gói gửi đi có kèm thông tin về việc node đó vừa nhận gì, từ ai. Khi lượng thông tin này tích lại đủ, mọi node đều nắm cùng một bản ghi về việc ai biết gì vào lúc nào. Từ bản ghi chung đó, mỗi node tự tính ra thứ tự cuối cùng và dấu thời gian đồng thuận cho từng giao dịch. Vì tất cả cùng tính trên cùng một dữ liệu và cùng một quy tắc, kết quả giống nhau.
Khác nhau ở chữ tính. Thứ tự không được quyết định bởi việc ai gửi khối trước, mà bởi một phép tính chạy trên dữ liệu mà mọi node đều có. Một phép tính đã cho ra kết quả thì không cần chờ thêm gì để yên tâm hơn.
Đây là ưu điểm thật của mạng. Với một hệ thống thanh toán hay ghi nhận sự kiện, việc biết chắc thứ tự và thời điểm ngay khi giao dịch được xử lý là một tính chất có giá trị thực. Nó khác hẳn việc phải chọn một ngưỡng chờ dựa trên khẩu vị rủi ro.
| Điểm so sánh | Nối khối vào chuỗi (nhóm Bitcoin) | Tính trên bản ghi trao đổi (hashgraph) |
|---|---|---|
| Ai quyết định thứ tự | Người tạo ra khối trong vòng đó | Không ai riêng lẻ. Mỗi node tự tính ra cùng một kết quả |
| Cái gì chạy trên mạng | Giao dịch và khối đã đóng gói | Giao dịch kèm thông tin đã nghe gì từ ai |
| Bản chất của việc chốt | Xác suất bị đảo ngược giảm dần theo số khối | Thứ tự và dấu thời gian được xác định theo quy tắc, không xét lại |
| Vì sao sàn bắt chờ xác nhận | Vì nhánh dài hơn có thể xuất hiện và đẩy khối ra | Không có nhánh nên không có bước chờ tương đương |
| Điều kiện tham gia đồng thuận | Có máy là chạy được, không cần xin phép | Phải nằm trong danh sách node đã được công bố |
4. Các node chuyển cho nhau cái gì, và vì sao không ai phải gửi phiếu bầu
Cơ chế của Hedera có hai cái tên riêng mà bạn sẽ gặp đi gặp lại trong tài liệu: gossip about gossip và bỏ phiếu ảo (virtual voting). Nghe lạ, nhưng cả hai đều mô tả những việc rất cụ thể. Tôi kể theo đúng thứ tự các bước cho dễ hình dung.
Bước một. Một node nhận giao dịch từ người dùng. Nó không đợi gom đủ số lượng, cũng không đợi tới lượt mình.
Bước hai. Node chọn ngẫu nhiên một node khác và gửi cho node đó những gì mình đang có. Gói tin gửi đi không chỉ chứa giao dịch mới. Nó chứa thêm hai thứ: lần gần nhất chính node này nhận được thông tin là từ node nào, và lần gần nhất nó tự tạo ra thông tin là lúc nào.
Bước ba. Node nhận được gói tin đó lại tiếp tục chọn ngẫu nhiên một node khác và làm y như vậy. Vì mỗi vòng trao đổi làm số node biết thông tin tăng theo cấp số nhân, chỉ sau một số vòng rất nhỏ là cả mạng đều biết.
Bước bốn. Đây mới là chỗ quan trọng. Do mỗi gói tin đều mang theo thông tin về nguồn, nên sau một thời gian ngắn, mỗi node không chỉ biết có những giao dịch nào. Nó biết luôn ai đã nhận được thông tin nào, từ ai, và trước hay sau thông tin nào khác. Bản ghi này giống hệt nhau ở mọi node, vì nó được ghép lại từ chính các gói tin mà tất cả đều đã trao đổi.
Bước năm. Đến lúc cần chốt thứ tự, các node không gửi phiếu bầu cho nhau. Mỗi node nhìn bản ghi mình đang giữ và tự tính ra: với dữ liệu này, node kia chắc chắn đã thấy những gì, và nếu phải bỏ phiếu thì nó sẽ bỏ phiếu ra sao. Vì bản ghi giống nhau nên kết quả tính giống nhau. Vì thế mới có chữ ảo: phiếu chỉ tồn tại trong phép tính, không có phiếu nào chạy trên đường truyền.
Hệ quả kỹ thuật của bước năm rất đáng chú ý. Ở nhiều hệ thống đồng thuận kiểu cũ, muốn thống nhất một việc thì các máy phải gửi phiếu qua lại nhiều vòng, và lượng tin nhắn tăng rất nhanh theo số máy. Ở đây, thứ duy nhất chạy trên mạng là dữ liệu trao đổi thông thường. Phần bỏ phiếu được chuyển thành phép tính chạy cục bộ trong từng máy. Bớt được tin nhắn nghĩa là bớt được một nút thắt về băng thông.
Bước sáu. Từ bản ghi đó, mạng tính ra dấu thời gian đồng thuận cho mỗi giao dịch. Dấu thời gian này không do một máy nào tự đặt. Nó được suy ra từ thời điểm mà các node lần đầu nhận được giao dịch, theo một quy tắc cố định.
5. Chịu được một phần ba nói dối, nhưng phải biết một phần ba của bao nhiêu
Trong tài liệu, cơ chế này được xếp vào nhóm aBFT, viết tắt của chịu lỗi Byzantine trong môi trường bất đồng bộ. Cụm từ nghe nặng nhưng nội dung của nó gọn: kể cả khi không giả định gì về tốc độ đường truyền, tin nhắn tới muộn bao lâu cũng được, mạng vẫn thống nhất được một thứ tự chung, miễn là số node hỏng hoặc nói dối chiếm dưới một phần ba tổng số node tham gia.
Hai chữ cần chú ý là nói dối và bất đồng bộ. Nói dối ở đây không chỉ là chết máy. Nó bao gồm cả việc một node cố tình gửi cho node A một phiên bản dữ liệu, gửi cho node B một phiên bản khác, hoặc gửi sai thứ tự để làm rối. Còn bất đồng bộ nghĩa là không có giả định nào về việc tin nhắn phải tới trong bao nhiêu giây. Nhiều hệ thống khác chỉ chứng minh được tính đúng đắn khi giả định mạng đủ nhanh. Bỏ được giả định đó nghĩa là bảo đảm ở đây thuộc loại mạnh hơn.
Tính chất này đã được chứng minh bằng toán, và bản chứng minh còn được kiểm tra lại bằng máy. Tôi ghi lại chi tiết này vì đó là một kết quả nghiên cứu nghiêm túc.
Ở nhóm Bitcoin, không ai biết tổng số người đang đào là bao nhiêu, cũng không ai cần biết. Vì không đếm được người tham gia nên hệ thống không thể đưa ra một lời bảo đảm dạng dưới một phần ba. Bù lại, nó đưa ra một lời bảo đảm khác: càng nhiều khối chồng lên, khả năng lật lại càng nhỏ. Đó là bảo đảm theo xác suất, và nó không cần biết ai đang tham gia.
Hedera đi hướng ngược lại. Nó chọn kiểu bảo đảm cần đếm được người tham gia, nên nó phải cố định danh sách người tham gia. Bitcoin không có cách đếm số người tham gia nên chỉ đưa ra được bảo đảm theo xác suất, còn Hedera đếm được số node nên đưa ra được bảo đảm theo quy tắc.
6. Từ vựng cần biết khi đọc tài liệu Hedera
Tài liệu chính thức của mạng dùng một số từ khá đặc thù. Bảng dưới ghi nghĩa gọn để bạn đọc tài liệu gốc không bị vướng.
| Thuật ngữ | Nghĩa |
|---|---|
| Hashgraph | Thuật toán đồng thuận của mạng. Thay vì nối khối, nó lưu lại bản ghi việc các node đã trao đổi thông tin với nhau ra sao, rồi tính thứ tự từ bản ghi đó |
| Gossip about gossip | Cách trao đổi trong đó mỗi gói tin gửi đi mang theo cả thông tin về việc người gửi đã nhận được gì và từ ai trước đó |
| Bỏ phiếu ảo | Cách xác định kết quả trong đó mỗi node tự tính ra lá phiếu mà node khác sẽ bỏ, dựa trên bản ghi chung, nên không có phiếu bầu nào chạy trên mạng |
| aBFT | Chịu lỗi Byzantine trong môi trường bất đồng bộ. Mạng vẫn thống nhất được thứ tự dù không giả định gì về độ trễ, miễn là số node hỏng hoặc gian dối dưới một phần ba |
| Dấu thời gian đồng thuận | Thời điểm được gán cho một giao dịch theo quy tắc chung, suy ra từ lúc các node nhận được giao dịch, không do một máy tự đặt |
| Staking ủy quyền | Cách trỏ tài khoản của bạn tới một node để số dư được tính vào phần stake của node đó, trong khi coin vẫn nằm nguyên trong tài khoản |
| Tinybar | Đơn vị nhỏ nhất của HBAR. Một HBAR bằng 100 triệu tinybar. Tham số thưởng trong tài liệu được ghi bằng đơn vị này |
| Dịch vụ đồng thuận | Dịch vụ cho phép hệ thống bên ngoài gửi lên các thông điệp ngắn để nhận về thứ tự và dấu thời gian, thay vì đưa toàn bộ dữ liệu lên mạng |
| Mirror node | Node chỉ lưu và phục vụ dữ liệu để tra cứu, không tham gia quyết định thứ tự. Đây là nơi lấy số liệu công khai trong bài này |
| Tệp hệ thống 0.0.113 | Nơi lưu bảng phí của mạng. Bảng phí sửa được, và thẩm quyền sửa thuộc về hội đồng |
Một mẹo nhỏ khi đọc tài liệu gốc: chuỗi số dạng ba phần ngăn bởi dấu chấm luôn là mã định danh của một đối tượng trên mạng, và phần lớn tra được qua API công khai.

7. Cái giá của quy tắc: danh sách node đồng thuận là danh sách đóng
Tôi mở trực tiếp API mirror node công khai của mạng và đếm. Số node đồng thuận trên mainnet tại thời điểm tôi tra là 25. Tất cả đều do các tổ chức thành viên của hội đồng vận hành. Đây không phải suy đoán: phần mô tả của từng node ghi thẳng đơn vị vận hành và nơi đặt máy, kiểu như node do LG vận hành ở Singapore, node do Swirlds vận hành ở bang Iowa của Mỹ, node do Nomura vận hành ở Tokyo, node do Google vận hành ở Helsinki, node do Zain Group vận hành ở Kuwait.
Mạng không giấu chuyện này mà công bố hẳn ra. Với một hệ thống chọn kiểu bảo đảm cần đếm người tham gia, việc không công bố danh sách đồng nghĩa với việc lời bảo đảm kia mất nghĩa.
Bây giờ đặt hai mạng cạnh nhau cho rõ. Với nhóm Bitcoin, ai có máy tính cá nhân và đường truyền là chạy được node, không cần xin phép ai, và hệ quả là việc chốt giao dịch chỉ nhận được theo xác suất. Với Hedera, muốn vận hành node đồng thuận thì phải nằm trong danh sách đã công bố, và nhờ có danh sách đó mà thứ tự được chốt theo quy tắc.
Ở cả hai thiết kế, phần được và phần mất dính liền nhau. Chốt theo quy tắc đi kèm danh sách tham gia đóng, còn chỗ tham gia để mở thì đi kèm cách chốt theo xác suất.
Có một cách hiểu sai rất phổ biến mà tôi muốn chặn ngay tại đây. Nhiều người thấy dòng chữ đây không phải blockchain thì nghĩ mạng này tự do hơn, mở hơn, ít bị kiểm soát hơn. Không đúng. Việc không dùng khối là chuyện của cấu trúc dữ liệu. Ở phần tham gia đồng thuận thì mạng này đóng hơn so với các mạng dùng khối mở. Hai chuyện đó độc lập với nhau, và trộn chúng lại là nguồn gốc của hầu hết những câu giới thiệu sai về Hedera mà tôi đọc được bằng tiếng Việt.
8. Ai sửa được luật chơi, và mã nguồn hiện do ai giữ
Bảng phí, các tham số của phần thưởng staking và lịch đưa số coin còn trong kho bạc ra thị trường đều do hội đồng quản trị mạng quyết định.
Hội đồng gồm hơn 30 tổ chức, doanh nghiệp và trường đại học. Tài liệu quản trị của mạng nêu hai nguyên tắc đáng chú ý. Thứ nhất, các thành viên có quyền biểu quyết ngang nhau, không có chuyện ai góp nhiều thì có nhiều phiếu. Thứ hai, nhiệm kỳ có giới hạn, thành viên không ngồi mãi một chỗ. Mục đích của hai nguyên tắc này là để không một công ty đơn lẻ nào chi phối được các quyết định.
So với kiểu một nhà sáng lập hoặc một quỹ duy nhất muốn đổi gì thì đổi, đây rõ ràng là phân tán hơn, và cơ chế phiếu ngang nhau cộng giới hạn nhiệm kỳ là một ràng buộc thật. Còn so với kiểu ai cũng có quyền đề xuất và ai cũng có quyền từ chối nâng cấp, đây là một mô hình khác hẳn. Danh sách thành viên cụ thể thì thay đổi theo thời gian, nên tôi không liệt kê đầy đủ.
Còn mã nguồn thì sao? Đây là phần lịch sử duy nhất tôi thấy cần kể, vì nó trả lời cho câu hỏi hiện tại phần lõi của mạng do ai giữ. Ban đầu, thuật toán hashgraph được bảo hộ bằng bằng sáng chế, và đó là căn cứ chính của những lời phê bình dành cho dự án trong nhiều năm. Sau đó hội đồng biểu quyết mua lại quyền sở hữu trí tuệ này từ công ty Swirlds, và vào ngày 5 tháng 8 năm 2022, thuật toán được phát hành theo giấy phép mã nguồn mở Apache 2.0. Đến tháng 9 năm 2024, toàn bộ phần mềm lõi của mạng được hiến tặng cho một tổ chức thuộc Linux Foundation dưới tên dự án Hiero.
Tôi ghi lại chuỗi việc này vì nó là sự thật và vì bỏ nó đi thì phần phê bình trong bài sẽ thiếu chính xác. Quyền sở hữu và việc bảo trì mã lõi đã được đưa ra khỏi tay một công ty duy nhất. Ai muốn phê bình dự án thì nên phê bình dựa trên cấu trúc hiện tại, chỗ đáng nói là danh sách node đồng thuận đóng, chứ không nên dựa vào một tình trạng đã thay đổi.
9. Mạng bán ba dịch vụ, và bảng giá được niêm yết bằng đô la
Bỏ qua các từ ngữ giới thiệu, mạng này bán ba thứ. Tôi mô tả từng thứ theo kiểu nó giải quyết việc gì cho người dùng.
Dịch vụ token. Bạn phát hành một loại token và chuyển token đó đi mà không cần viết hợp đồng thông minh. Việc tạo token, quy định số lượng, quy định ai được phép giữ đều là chức năng có sẵn của mạng.
Dịch vụ đồng thuận. Đây là dịch vụ cho thấy rõ nhất bản chất thứ mà mạng này bán, và cũng là thứ ít được nhắc tới nhất trong nội dung tiếng Việt. Bạn có một hệ thống riêng, ví dụ hệ thống quản lý kho hoặc hệ thống đối soát giữa hai công ty. Bạn không đưa dữ liệu lên mạng công khai. Bạn chỉ gửi lên một thông điệp ngắn cho mỗi sự kiện, và cái bạn mua là thứ tự cùng dấu thời gian đồng thuận cho các thông điệp đó.
Hợp đồng thông minh. Mạng cung cấp môi trường chạy tương thích với công cụ của hệ sinh thái Ethereum, nên lập trình viên quen Solidity không phải học lại từ đầu.
| Mạng làm | Mạng không làm |
|---|---|
| Xác định thứ tự và dấu thời gian đồng thuận cho giao dịch | Không có khai thác bằng máy đào |
| Phát hành và chuyển token bằng chức năng có sẵn | Không tạo thêm coin mới sau khi khởi chạy |
| Gắn thứ tự và thời điểm cho sự kiện của hệ thống bên ngoài | Không che giấu số dư hay lịch sử giao dịch |
| Chạy hợp đồng thông minh tương thích công cụ Ethereum | Không cho phép ai tùy ý tham gia vào tầng đồng thuận |
Còn giá thì được niêm yết theo cách ít gặp: bảng phí ghi bằng đô la Mỹ, còn khi trả thì trả bằng HBAR. Số HBAR tương ứng được quy đổi theo một tỷ giá do mạng quản lý, tức là cùng một việc thì tốn cùng một số tiền tính theo đô la, còn số coin bỏ ra thì thay đổi.
| Thao tác | Phí | Ghi chú |
|---|---|---|
| Chuyển coin | 0,0001 | Thao tác thường gặp nhất |
| Gửi một thông điệp lên dịch vụ đồng thuận | 0,0008 | Mỗi sự kiện là một thông điệp |
| Chuyển token | 0,001 | Token phát hành bằng chức năng của mạng |
| Tạo một chủ đề cho dịch vụ đồng thuận | 0,01 | Làm một lần cho mỗi luồng sự kiện |
| Đúc NFT | 0,02 | Tính trên mỗi lần đúc |
| Tạo tài khoản mới | 0,05 | Trả một lần khi mở tài khoản trên mạng |
Bảng phí này được lưu trong một tệp hệ thống của mạng, mã 0.0.113, và nó sửa được. Ai sửa thì mục trước đã trả lời: hội đồng. Vậy nên đọc bảng trên thì hiểu là mức phí theo quy định hiện hành, không phải hằng số vĩnh viễn.
Với người Việt quen quy mọi khoản về tiền đồng, cách niêm yết này khá dễ chịu. Một thao tác chuyển coin tốn một phần rất nhỏ của một xu, và con số đó do bảng phí quy định chứ không do lượng giao dịch đang chờ xử lý quyết định. Đây là ưu điểm thật, và là loại ưu điểm dễ kiểm chứng: lấy số thao tác nhân với đơn giá là ra ngân sách của cả tháng.
10. Mạng được dùng nhiều hơn thì có cần nhiều HBAR hơn không?
Phí rẻ và dự tính được là chuyện của người dùng mạng. Còn người giữ coin thì sao? Đây là hai phía khác nhau: một bên là chi phí vận hành, một bên là nhu cầu đối với đồng coin.
Vì phí được ấn định bằng đô la, số HBAR cần bỏ ra cho một thao tác được tính ngược lại từ tỷ giá. Nếu giá coin tăng, cùng một thao tác sẽ tốn ít HBAR hơn. Nếu giá coin giảm, thao tác đó tốn nhiều HBAR hơn. Tổng số tiền mà mạng thu được, tính theo đô la, gần như không đổi theo biến động giá.
Đứng ở phía doanh nghiệp dùng mạng, đây đúng là điều họ cần. Không ai muốn chi phí vận hành của mình nhảy theo một thị trường mà mình không kiểm soát. Đây là một lựa chọn thiết kế có chủ ý và nó phục vụ đúng nhóm khách hàng mà mạng nhắm tới.
Đứng ở phía người giữ coin, câu hỏi lại khác. Giả sử lượng thao tác trên mạng tăng gấp mười lần. Số HBAR cần dùng để trả phí có tăng gấp mười không? Về số lượng thao tác thì có, nhưng số coin cho mỗi thao tác lại tính ngược từ tỷ giá, nên phần tăng đó không chuyển thành nhu cầu coin theo tỷ lệ một đổi một. Thêm nữa, số coin dùng để trả phí trong mỗi thao tác nhỏ tới mức, so với tổng nguồn cung 50 tỷ, phần này rất khó tạo ra một sức mua đáng kể.
Hai đường thường được nhắc tới cũng có giới hạn riêng. Staking thì bị chặn trần và lấy tiền từ số dư một tài khoản có sẵn, như mục về staking sẽ chỉ ra. Còn nhu cầu giữ sẵn coin để trả phí thì có thật, nhưng độ lớn của nó phụ thuộc vào chi phí thực tế, mà chi phí ở đây được thiết kế cho rẻ.
Tôi dừng ở chỗ mô tả cấu trúc và không kết luận thay bạn. Câu tôi muốn bạn nhớ chỉ là: trong thiết kế này, mạng được dùng nhiều hơn không tự động kéo theo nhu cầu coin tăng tương ứng. Ai muốn lập luận rằng có, thì cần chỉ ra đường dẫn cụ thể, chứ không thể lấy số lượng khách hàng làm bằng chứng.
11. 50 tỷ HBAR phát hành một lần: không đào, không chia đôi phần thưởng
Người mới ở Việt Nam thường mặc định hai chuyện với bất kỳ đồng coin nào: có máy là khai thác được, và trước sau gì cũng có một đợt chia đôi phần thưởng khối để giá được đỡ. Với HBAR thì cả hai đều không áp dụng, và lý do rất đơn giản.
Toàn bộ nguồn cung 50 tỷ HBAR được tạo ra một lần duy nhất khi mạng khởi chạy vào năm 2018. Từ đó tới nay không có đồng nào được tạo thêm. Không có phần thưởng khối thì cũng không có gì để chia đôi. Không có máy đào, không có mỏ, không có độ khó điều chỉnh. Nếu bạn thấy nội dung nào hướng dẫn cách khai thác đồng này thì đó là nội dung sai.
Nguồn cung cố định thường được nhắc tới như một ưu điểm, và đúng là nó có nghĩa là không có lạm phát phát hành. Nhưng nó còn có một hệ quả nữa, ít được nói tới hơn: mạng cũng không có ngân sách bảo mật lấy từ việc phát hành coin mới. Ở nhóm Bitcoin, coin mới sinh ra mỗi khối chính là khoản chi để giữ chân người đào. Ở đây khoản chi đó không tồn tại, và chi phí hạ tầng do chính các tổ chức thành viên gánh bằng máy móc và đường truyền của họ. Hai mô hình khác nhau về tận gốc, và cái nào cũng có ràng buộc riêng.
Điểm xuất phát của đồng này cũng khác. Coin không được chia qua việc đào mà bán cho nhà đầu tư đủ điều kiện theo dạng hợp đồng mua token trong tương lai, tức là theo một kế hoạch do công ty đặt ra. Tôi không xếp hạng hai cách hơn kém, nhưng người mua nên biết mình đang đứng ở mô hình nào.
Phần thứ hai của câu chuyện nguồn cung là kho bạc. Không phải toàn bộ 50 tỷ HBAR đang lưu thông. Một phần vẫn nằm trong kho bạc của mạng và được đưa ra theo kế hoạch do một ủy ban của hội đồng phụ trách, không do thị trường quyết định. Tỷ lệ cụ thể tại thời điểm tôi đo nằm trong bảng số liệu đo trực tiếp ở phía dưới.

12. Staking ở đây không khóa coin, nhưng trần thưởng đã bị chặn sẵn
Nhiều người Việt tiếp xúc với chữ staking lần đầu qua mục Earn trên sàn: chọn sản phẩm, chọn kỳ hạn, coin bị khóa trong 30 hay 60 ngày, đổi lại có lãi suất. Staking trên mạng Hedera không giống mô hình đó, nên tôi tách rõ ngay từ đầu để bạn không bị nhầm. Nếu bạn chưa nắm khái niệm chung, bài staking là gì giải thích phần nền, còn các sản phẩm có kỳ hạn của sàn thì thuộc phạm vi bài crypto earn là gì.
Cách hoạt động ở đây gọi là staking ủy quyền. Bạn có một tài khoản trên mạng Hedera, và bạn trỏ tài khoản đó tới một node. Từ lúc trỏ, số dư trong tài khoản của bạn được tính vào phần stake của node đó. Coin không đi đâu cả. Nó vẫn nằm trong tài khoản của bạn, vẫn chuyển đi được, vẫn bán được bất cứ lúc nào. Tài liệu của mạng nói rõ là không có kỳ hạn khóa và số dư đã trỏ node vẫn luôn ở trạng thái tự do.
Thưởng được tính theo chu kỳ 24 giờ. Thưởng chưa nhận thì không mất đi, nhưng có một giới hạn cần nhớ: bạn chỉ truy lĩnh được tối đa phần thưởng của 365 ngày gần nhất. Ai trỏ node rồi bỏ quên tài khoản nhiều năm thì phần vượt quá khoảng thời gian đó không lấy lại được.
Bây giờ tới phần mà tôi thấy ít bài nói đủ: mức thưởng bị chặn trần từ nhiều phía cùng lúc.
| Hạng mục | Quy định |
|---|---|
| Coin có rời tài khoản không | Không. Bạn chỉ trỏ tài khoản tới một node |
| Kỳ hạn khóa | Không có. Số dư đã trỏ node vẫn chuyển và bán được |
| Chu kỳ tính thưởng | 24 giờ |
| Nguồn tiền thưởng | Số dư của một tài khoản hệ thống, mã 0.0.800. Không phải coin phát hành mới |
| Trần tỷ lệ thưởng | Có trần, do hội đồng đặt bằng tham số mạng. Mức đang áp dụng nằm trong bảng số liệu đo ở mục ngay sau |
| Trần tổng thưởng mỗi ngày | Có trần cho toàn mạng, tính theo từng chu kỳ 24 giờ |
| Trần stake được tính thưởng | Có trần cho toàn mạng. Phần vượt không làm tăng tổng thưởng |
| Trần stake cho mỗi node | Có trần cho từng node. Phần vượt trần không được tính vào công thức thưởng |
| Node từ chối nhận thưởng | Có. Một số node bật chế độ không nhận thưởng cho phần của chính node |
| Hạn truy lĩnh thưởng chưa nhận | Tối đa 365 ngày gần nhất |
Mấy hàng trần ở cuối bảng có ý nghĩa thực tế rõ nhất. Trần stake cho mỗi node nghĩa là nếu node bạn chọn đã nhận quá nhiều stake, phần vượt sẽ không được đưa vào công thức tính thưởng. Tại thời điểm tôi đo, một phần đáng kể trong số 25 node đã chạm trần đó, và một phần đáng kể khác thì bật chế độ từ chối thưởng.
Phần nguồn tiền thưởng là chỗ dễ gây bất ngờ nhất. Mạng không tạo thêm coin, nên thưởng staking được chi ra từ số dư của tài khoản hệ thống 0.0.800, và việc bơm thêm vào tài khoản đó cũng là quyết định của hội đồng. Tôi không dự đoán gì về số dư ấy. Trần tỷ lệ thưởng thấp là hệ quả của cách cấp tiền này.
13. Trần lý thuyết và con số tôi tự đo được từ mirror node
Đây là chỗ tôi thấy nội dung tiếng Việt về Hedera hay đi chệch nhất. Rất nhiều bài chép lại một con số quảng cáo về số giao dịch mỗi giây, đặt nó ở ngay đoạn mở đầu, rồi coi đó là đặc điểm của mạng. Con số kiểu đó là giới hạn lý thuyết trong điều kiện thử nghiệm, không phải mức tải thực tế.
Nên thay vì tranh luận, tôi đi đo. Cách làm rất đơn giản và bạn lặp lại được: gọi API mirror node công khai lấy 100 giao dịch gần nhất, đọc dấu thời gian đồng thuận của giao dịch đầu và giao dịch cuối, lấy 100 chia cho khoảng thời gian giữa hai mốc. Tôi lặp lại phép đo này ba lần để tránh trúng một khoảnh khắc bất thường.
Kết quả nằm ở bảng dưới. Mức đo được khoảng vài giao dịch mỗi giây, quy ra khoảng hai trăm nghìn giao dịch một ngày. Có nguồn thống kê thứ cấp ghi mức cao hơn, khoảng ba trăm bảy mươi nghìn giao dịch một ngày. Lấy con số nào thì kết luận vẫn thế: mức tải thực thuộc thang hàng trăm nghìn giao dịch mỗi ngày, còn con số quảng cáo quy ra một ngày thì lớn hơn nhiều bậc.
| Chỉ số | Giá trị đo được | Nguồn truy vấn |
|---|---|---|
| Số node đồng thuận trên mainnet | 25, toàn bộ do tổ chức thành viên hội đồng vận hành | network/nodes |
| Số node đã chạm trần stake của node | 8 trên 25 | network/nodes |
| Số node bật chế độ từ chối thưởng | 12 trên 25 | network/nodes |
| Nguồn cung đã lưu thông | 43.831.559.711 HBAR, tương đương khoảng 87,7% của 50 tỷ. Phần còn lại khoảng 12,3% vẫn ở kho bạc | network/supply |
| Tổng lượng HBAR đang trỏ node | Khoảng 11,3 tỷ HBAR | network/stake |
| Số dư tài khoản thưởng 0.0.800 | Khoảng 145,04 triệu HBAR | accounts/0.0.800 |
| Trần tỷ lệ thưởng đang áp dụng | 5.232 tinybar mỗi ngày cho mỗi HBAR, tức khoảng 0,005232% một ngày, quy ra khoảng 1,9% một năm | network/stake |
| Trần tổng thưởng mỗi ngày | Khoảng 445.183 HBAR cho toàn mạng | network/stake |
| Trần stake được tính thưởng | 6,5 tỷ HBAR toàn mạng và 450 triệu HBAR cho mỗi node | network/stake |
| Lưu lượng đo được | Khoảng 2,5 giao dịch mỗi giây, quy ra khoảng 210.000 đến 220.000 giao dịch một ngày | transactions, đo lặp 3 lần |
Đây không phải bằng chứng cho việc mạng chạy chậm. Bất kỳ mạng nào cũng có khoảng cách giữa giới hạn thiết kế và mức tải thực tế, vì tải thực tế phụ thuộc vào số người đang dùng chứ không phụ thuộc vào năng lực phần mềm. Bảng này nói về thói quen viết bài: trích giới hạn lý thuyết rồi trình bày như thể đó là hiện trạng thì làm người đọc hiểu sai.
Một điểm phụ nhưng đáng nhớ: tôi đo được những con số này vì mọi tài khoản, số dư và giao dịch trên mạng đều tra được công khai. Nếu bạn từng đọc ở đâu đó rằng đây là một đồng coin ẩn danh thì bảng trên đã tự bác bỏ điều đó.
14. Những câu nghe quen về HBAR mà không đúng
Tôi gom lại những câu hay gặp nhất trong các nhóm chat và trong nội dung tiếng Việt về đồng này. Cột bên trái là câu thường nghe, cột bên phải là phần kiểm chứng được.
| Câu thường nghe | Thực tế |
|---|---|
| Có thể khai thác HBAR bằng máy đào | Không có hoạt động khai thác trên mạng này. Toàn bộ nguồn cung ra đời một lần lúc khởi chạy |
| Đồng này cũng có chu kỳ chia đôi phần thưởng như Bitcoin | Không. Không có phần thưởng khối thì không có gì để chia đôi |
| Vì không phải blockchain nên phi tập trung hơn | Không dùng khối là chuyện cấu trúc dữ liệu. Ở tầng đồng thuận, mạng này đóng hơn vì danh sách node phải cố định |
| Nhiều tập đoàn lớn nằm trong hội đồng nên họ đang dùng mạng này | Điều xác nhận được là họ tham gia quản trị và vận hành node. Việc họ dùng mạng cho hoạt động kinh doanh là chuyện khác |
| HBAR là coin ẩn danh | Không. Số dư và giao dịch tra được công khai qua API. Số liệu trong bài này lấy từ đó |
| Doanh nghiệp dùng nhiều thì nhu cầu coin tăng tương ứng | Không tự động đúng. Phí được ấn định bằng đô la, nên giá coin tăng thì cùng một thao tác tốn ít HBAR hơn |
| Ai cũng dựng được node đồng thuận nếu đủ máy | Không. Node đồng thuận là danh sách đã được công bố, và đơn vị vận hành ghi ngay trong API |
Dòng cuối cần nói thêm một chút. Bên thứ ba dựng được mirror node, loại node chỉ lưu và phục vụ dữ liệu tra cứu, chính là loại tôi dùng để lấy số liệu cho bài này. Nhưng mirror node không tham gia quyết định thứ tự giao dịch. Khi nói tới đồng thuận thì đối tượng cần xét là node đồng thuận, và đó là danh sách đóng.
15. Tôi nghĩ gì về thiết kế này, và chỗ tôi còn để ngỏ
Phần này là ý kiến riêng của tôi, tách ra khỏi các mục mô tả phía trên. Tôi không nói về giá và không nói nên mua hay không.
Điều tôi đánh giá cao nhất là tính nhất quán của thiết kế. Muốn chốt thứ tự bằng quy tắc thì phải đếm được người tham gia. Muốn đếm được thì phải đóng danh sách lại. Hedera làm đúng theo chuỗi đó và không giấu bước cuối. Nó đóng danh sách, rồi ghi thẳng tên đơn vị vận hành từng node vào API công khai để ai cũng đọc được.
Thiết kế này hợp với việc gì. Hợp với những công việc mà thứ tự và thời điểm cần được xác định dứt khoát, chi phí cần dự tính trước theo tháng theo quý, và việc biết đối tác là ai lại chính là một yêu cầu chứ không phải một trở ngại. Dịch vụ đồng thuận nhắm đúng vào nhóm nhu cầu đó, và tôi thấy nó là phần thuyết phục nhất trong ba dịch vụ.
Thiết kế này không hợp với việc gì. Không hợp nếu mục tiêu của bạn chính là tham gia không cần xin phép và khả năng chống lại việc bị loại khỏi hệ thống. Với mục tiêu đó, mạng này không phải câu trả lời, và tôi không coi đây là khuyết điểm. Đó là hệ quả của việc họ làm ra một thứ khác.
Kỹ thuật thì tôi thấy đã rõ. Câu tôi chưa trả lời được là về đồng coin. Khi phí được ấn định bằng đô la và nguồn cung thì cố định, tôi chưa nhìn ra một đường dẫn rõ ràng từ việc mạng được dùng nhiều tới nhu cầu đối với đồng coin. Thưởng staking cũng không đến từ phát hành mới mà đến từ số dư một tài khoản đã định sẵn. Câu doanh nghiệp dùng nhiều thì coin sẽ lên vì thế không tự nhiên đúng trong cấu trúc này. Biết điều đó rồi vẫn thấy ổn là một chuyện, không biết mà vẫn mua là chuyện khác, và tôi viết mục này để bạn ở vào nhóm thứ nhất.
Chỗ tôi thấy phe phê bình đã cũ. Lời chê quen thuộc nhất dành cho dự án này là công nghệ bị khóa trong bằng sáng chế, và ở thời điểm hiện tại thì lời chê đó không còn khớp với cấu trúc thật, vì quyền sở hữu trí tuệ đã được mua lại rồi phát hành mã nguồn mở, còn phần mềm lõi đã chuyển cho một tổ chức bên ngoài giữ. Muốn phê bình thì nên phê bình chỗ danh sách node đồng thuận là danh sách đóng, đó mới là điểm còn đứng vững.
Tôi biết có người đọc xong sẽ kết luận ngược lại với tôi, và tôi thấy chuyện đó bình thường.








