Ethena và USDe: USDT để bao lâu cũng không sinh lãi, sao đồng này lại có?
USDe, sUSDe và token ENA là ba thứ khác nhau với ba loại rủi ro khác nhau. Bài này mổ bộ máy phía sau để bạn tự đánh giá.
| Thứ bạn cầm | Đang giữ cái gì | Có lãi không | Rủi ro chính |
|---|---|---|---|
| USDe | Đô la tổng hợp: rổ tài sản giao ngay cộng vị thế bán khống cùng quy mô | Không | Vị thế đối ứng, đơn vị lưu ký, thanh khoản thị trường thứ cấp |
| sUSDe | USDe đã đem đi stake, tích lũy bằng tỷ lệ quy đổi nhích lên | Có, đổi từng ngày | Toàn bộ rủi ro của USDe, cộng lợi suất trồi sụt và thời gian chờ lúc rút |
| ENA | Token quản trị và chia phần phí của giao thức | Chỉ khi đem stake thành sENA | Biến động giá token, khác loại với rủi ro của USDe |
Tiền lãi đến từ đâu: chủ yếu là phí funding do những người mở vị thế mua có đòn bẩy trả cho phe bán trên thị trường hợp đồng vĩnh cửu, cộng phần thưởng staking của tài sản trong rổ thế chấp. Phe mua thưa dần thì lợi suất mỏng đi, phe bán lấn át thì lãi gộp âm và quỹ dự phòng đứng ra gánh.
1. Cầm USDT mấy năm trời mà chưa từng thấy một đồng lãi
2. Một đồng đô la dùng để thanh toán vốn không được phép trả lãi cho người cầm
3. USDe giữ mốc một đô bằng một vị thế bán khống cùng quy mô
4. Đặt cạnh sổ tiết kiệm và khoản USDT: ai quyết định mức lãi
5. ENA, USDe, sUSDe: ba cái tên, ba loại rủi ro khác nhau
6. Mua xong vẫn chưa nhận được gì, và lối quay ra có thời gian chờ
7. Từ VND đến chỗ thật sự nhận lãi: các chặng và chỗ hay vấp
8. Lần theo dòng tiền: ai đang thật sự trả khoản lãi này
9. Những ngày dòng tiền chảy ngược, và lớp đệm mỏng nằm ở giữa
10. Nguồn cung tụt mạnh trong khi một đô la vẫn đổi được một đô la
11. Mấy con số già đi nhanh nhất, kèm mốc thời gian của từng con số
12. Màn hình một sàn hiện 0,65 đô, trên chuỗi vẫn 0,99: số nào mới tính
13. Tài sản thế chấp nằm ở đâu, ai còn có thể làm hỏng chuyện
14. Những câu nghe quen mà không đúng
15. Bảng từ vựng cho mấy chữ hay bị đọc lướt
Có một câu hỏi đáng giá hơn mọi con số phần trăm đang nhấp nháy trên màn hình: một đồng đô la mà lại đẻ ra lãi thì khoản lãi đó ai đang trả, và tới lúc nào thì họ ngừng trả. Con số phần trăm tháng sau đã khác, còn bộ máy tạo ra nó thì vài năm nữa vẫn chạy y như vậy. Bài này lần theo dòng tiền của Ethena, tách bạch USDe với sUSDe với token ENA, và chỉ ra chính xác những hoàn cảnh khiến khoản lãi đó teo lại hoặc quay đầu âm.
1. Cầm USDT mấy năm trời mà chưa từng thấy một đồng lãi
Thử mở lại lịch sử ví trên sàn của bạn. Nếu trong đó có một khoản USDT nằm im từ năm nào tới giờ, con số hôm nay gần như y hệt con số ngày bạn nạp vào. Không hụt đi đồng nào, cũng không dày thêm đồng nào. Chuyện này quen tới mức chẳng mấy ai còn thắc mắc. Mà cũng phải thôi: đồng ổn định giá sinh ra để đứng yên.
Có điều phía sau con số đứng yên ấy vẫn có tiền đang chạy. Khối tài sản dự trữ nằm sau một đồng stablecoin kiểu quen thuộc là tiền mặt và giấy tờ nợ ngắn hạn, mà những thứ đó thì sinh lời hàng ngày. Phần sinh lời ấy chỉ đơn giản là không chảy về ví bạn. Bạn cầm đồng đô la, còn phần lãi của khối dự trữ thuộc về bên phát hành ra nó. Nếu phần nền về stablecoin còn mơ hồ, bài stablecoin là gì dựng lại chỗ đó kỹ hơn.
Cho nên khi có ai đó kể với bạn về một đồng đô la trên chuỗi mà lại trả lãi cho người nắm giữ, phản xạ đầu tiên nên là một câu hỏi rất đời thường: khoản đó ai móc túi ra trả? Câu hỏi này không mang ý nghi ngờ. Hễ có một dòng tiền chảy vào túi người này thì phải có một cái túi khác đang vơi đi. Biết được cái túi đang vơi là của ai, bạn sẽ tự trả lời được câu hỏi khó hơn nhiều: đến lúc nào thì dòng đó cạn.
Ethena là cái tên hay được nhắc tới nhất khi nói về loại đô la có lãi này, kèm theo ba thứ mà người ta thường gộp làm một trong cùng một câu. USDe là đồng đô la. sUSDe là dạng đã đem đi stake để nhận lãi. ENA là token quản trị của giao thức. Ba thứ, ba loại rủi ro, và chỉ một trong ba đưa tiền lãi về cho bạn. Còn khoản USDT kia thì cứ nằm im, vì loại đô la đó vốn không được phép trả lãi cho người cầm.
2. Một đồng đô la dùng để thanh toán vốn không được phép trả lãi cho người cầm
Có một chi tiết về mặt phân loại giải thích được vì sao khoản USDT kia đứng im. Loại đồng đô la được xếp vào nhóm dùng để thanh toán, tức là nhóm mà USDT hay USDC đang đứng, bị ràng một điều kiện rõ ràng: không được trả lãi cho người cầm. Bên phát hành giữ khối dự trữ, cam kết đổi lại một ăn một, và phần lời sinh ra từ khối dự trữ đó ở lại chỗ bên phát hành. Khung luật đặt ra cho nhóm này được nói kỹ trong bài luật GENIUS là gì.
Vậy nên bất cứ tài sản hình đô la nào trả lãi cho người nắm giữ đều nằm ngoài nhóm đó ngay từ đầu. Nó thuộc về một chủng loại khác, giống như sổ tiết kiệm và tờ tiền mặt trong ví đều tính bằng đồng nhưng là hai món hoàn toàn khác nhau.
Chuyện xếp nhóm nghe khô khan vậy chứ nó chạm thẳng vào cách bạn cầm tiền. Khi bạn cầm USDT, cái bạn trông cậy là bên phát hành có đủ dự trữ và có người mua bán ở khắp nơi. Việc của nó chỉ có vậy. Khi một tài sản hình đô la đưa lãi về cho bạn, tức là ở đâu đó phía sau có người đang mở vị thế trên một thị trường thật, có đối tác thật, có phần lời và phần lỗ thật. Phần lãi đó vì thế đi kèm đúng những rủi ro của vị thế phía sau: vị thế lỗ thì phần lãi teo, đối tác trục trặc thì tài sản kẹt.
Vậy nên đừng mang nguyên phản xạ từ USDT sang. Câu hỏi bạn cần đặt ra đã đổi. Với USDT, câu hỏi là dự trữ có thật không và có đủ không. Với một đồng đô la có lãi, câu hỏi là vị thế phía sau có giữ được thăng bằng không, ai đang trả tiền cho phần lãi, và chuyện gì diễn ra trong những ngày người đó ngừng trả.
3. USDe giữ mốc một đô bằng một vị thế bán khống cùng quy mô
USDe giữ mốc một đô bằng một cách thoạt nghe khá lạ tai: nó dùng chính thị trường phái sinh để triệt tiêu biến động của tài sản mình đang cầm. Rổ tài sản thế chấp gồm stablecoin, BTC, ETH và ETH đã stake. Song song với rổ đó là một vị thế bán khống hợp đồng vĩnh cửu có quy mô đúng bằng phần tài sản biến động. Hai vế đặt cạnh nhau nên giá trị của cả gói gần như đứng yên dù thị trường lên hay xuống.
Lấy một gói tưởng tượng trị giá 100 đô cho dễ hình dung. Trong gói có lượng ETH trị giá 100 đô, đồng thời có một vị thế bán khống ETH quy mô 100 đô. Thị trường sập 30%, phần ETH trong gói còn 70 đô, nhưng vị thế bán khống lãi 30 đô, cộng lại vẫn quanh 100. Thị trường tăng 40%, phần ETH thành 140 đô, vị thế bán khống lỗ 40 đô, cộng lại vẫn quanh 100. Đây là ý nghĩa của chữ trung tính delta: cái giữ cho gói đứng yên là phép bù trừ giữa hai vế, và nó chạy được chừng nào hai vế còn khớp quy mô với nhau.
Một đô la đi vào thì nằm ở những đâu
- Bên đối tác được cấp phép nộp tài sản vào và nhận về USDe mới phát hành.
- Tài sản đó được gửi ở đơn vị lưu ký chuyên trách, không nằm trong tài khoản sàn.
- Một vị thế bán khống quy mô tương ứng được mở trên sàn phái sinh, dùng chính phần tài sản kia làm cơ sở ký quỹ.
- Từ đó trở đi, gói này sinh ra hai nguồn tiền: phần thưởng staking của tài sản trong rổ, và phí funding chảy qua lại giữa hai phe của thị trường hợp đồng vĩnh cửu.
Đổi cách giữ giá thì những chỗ có thể hỏng cũng đổi theo. Với đồng có dự trữ pháp định, câu hỏi lớn nhất là kho dự trữ có đủ và có rút ra được không. Với USDe, câu hỏi lớn nhất là vị thế đối ứng có duy trì được không: sàn nơi đặt vị thế có vận hành bình thường không, phần lãi lỗ có được quyết toán đúng nhịp không, và trong lúc thị trường chạy nhanh thì có mở hay đóng được vị thế ở mức giá mong muốn không.
Cấu trúc kiểu này không phải phát minh của thị trường tiền mã hóa. Giữ tài sản cơ sở rồi bán khống hợp đồng tương lai để khóa phần chênh lệch là nghiệp vụ có tuổi đời hàng chục năm ở các bàn giao dịch chuyên nghiệp. Cái mới nằm ở chỗ nó được đóng gói thành một token mà người dùng phổ thông có thể cầm trong ví, và khoản sinh lời của nghiệp vụ đó được chia lại cho người cầm token.

4. Đặt cạnh sổ tiết kiệm và khoản USDT: ai quyết định mức lãi
Cách nhanh nhất để thấy USDe là loại tài sản gì là đặt nó cạnh hai thứ quen thuộc: khoản USDT bạn vẫn để trên sàn, và sổ tiết kiệm ở ngân hàng. Câu hỏi phân loại tốt nhất là ai quyết định mức lãi.
| Hạng mục | USDe (đô la tổng hợp) | Stablecoin có dự trữ pháp định | Gửi tiết kiệm ngân hàng |
|---|---|---|---|
| Cái giữ mốc một đô | Rổ tài sản giao ngay cộng vị thế bán khống | Tiền mặt và giấy tờ nợ ngắn hạn trong kho dự trữ | Năng lực tài chính của ngân hàng và cơ chế bảo hiểm tiền gửi |
| Cầm không thôi có lãi không | Không, phải đổi sang sUSDe | Không | Có |
| Ai quyết định mức lãi | Không ai. Thị trường phái sinh nghiêng về phía nào thì ra con số đó | Không áp dụng | Ngân hàng, theo hợp đồng và mặt bằng lãi suất |
| Ai có quyền đòi quy đổi | Đối tác trong danh sách được cấp phép | Khách hàng của bên phát hành, theo điều kiện từng bên | Chính người gửi |
| Lối ra thực tế của cá nhân | Thanh khoản ở thị trường thứ cấp | Thị trường thứ cấp hoặc quy đổi qua bên phát hành | Quầy giao dịch, chuyển khoản |
| Biết trước số tiền lúc đáo hạn | Không, lợi suất đổi từng ngày | Không áp dụng | Biết ngay từ lúc gửi |
| Bảo toàn vốn gốc | Không có cam kết nào | Không có cam kết nào | Có, trong hạn mức của cơ chế bảo hiểm |
Nhìn dọc cột cuối sẽ thấy vì sao thói quen của người gửi tiết kiệm không mang sang đây được. Với sổ tiết kiệm, ngày gửi là bạn đã biết ngày rút mình cầm về bao nhiêu, vì con số đó do ngân hàng ấn định và ghi vào hợp đồng. Lãi giảm khi ngân hàng quyết định giảm.
Với sUSDe, chẳng có hợp đồng nào ghi trước con số, và cũng chẳng có ai để mà giảm hay tăng nó. Con số là kết quả cộng dồn của việc thị trường phái sinh đang nghiêng về đâu trong từng khoảng thời gian. Cho nên điều kiện để phần lãi biến mất cũng khác hẳn: sổ tiết kiệm mất lãi khi chính sách đổi, còn ở đây tiền lãi mỏng đi đúng vào lúc thị trường nguội và người mở vị thế mua thưa dần.
Còn so với khoản USDT nằm im: USDT chỉ cần bên phát hành có đủ dự trữ và có người mua bán khắp nơi, còn USDe cần một bộ máy vận hành liên tục ở phía sau. Vị thế phải được giữ cho khớp quy mô, tài sản phải nằm đúng chỗ, phần lãi lỗ phải được quyết toán đều đặn. Ba việc đó chạy hàng ngày, và mỗi việc có một bên đối tác đứng sau.
5. ENA, USDe, sUSDe: ba cái tên, ba loại rủi ro khác nhau
Nhiều người gộp ba cái tên này làm một, rồi mua ENA và ngồi chờ lãi, hoặc mua USDe mà tưởng mình đang nắm phần vốn của giao thức. Chúng đứng chung một cái tên thương hiệu, còn bản chất thì chẳng dính gì nhau.
USDe là đồng đô la tổng hợp. Cầm nó là cầm một tài sản cố gắng đứng yên quanh một đô, và cầm không thôi thì chẳng có đồng lãi nào. sUSDe là chính đồng đó sau khi đem đi stake, dạng duy nhất có tiền lãi chảy về, đổi lại nó gánh thêm chuyện lợi suất trồi sụt và thời gian chờ lúc quay ra. Còn ENA chẳng bám vào mốc một đô nào cả: đó là token quản trị, giá lên xuống theo cung cầu của thị trường token, y như mọi token khác.
Chỗ mua cũng khác nhau. USDe nằm ở cặp giao dịch giao ngay của vài sàn lớn và ở các pool trên chuỗi. Muốn có sUSDe thì phải qua thao tác stake, hoặc qua sản phẩm Earn của sàn nào có hỗ trợ. ENA thì niêm yết rộng khắp, mua bán như một token bình thường.
Điểm dễ nhầm nhất nằm ở ENA. Token này có tổng cung tối đa 15 tỷ, và ở giai đoạn đầu chỉ một phần trong số đó lưu thông trên thị trường. Giao thức đã bật cơ chế chia phí, tức là một phần doanh thu chảy về phía ENA đã stake. Nhưng chia phí và giá token chạy theo hai guồng riêng: doanh thu giao thức phụ thuộc vào quy mô USDe và mức phí funding, còn giá token phụ thuộc vào cung cầu của chính thị trường token đó, trong đó có cả phần cung chưa lưu thông. Câu “USDe phình ra thì ENA lên” là một suy luận nghe hợp lý mà thực tế nhiều lần không đi theo.
6. Mua xong vẫn chưa nhận được gì, và lối quay ra có thời gian chờ
Đây là chỗ nhiều người vấp nhất, và cũng là chi tiết đáng nhớ nhất khi đụng tới đồng này: mua USDe xong thì chưa có lãi nào hết. Số dư USDe nằm trong ví hay nằm trong tài khoản sàn đều đứng im như một khoản USDT. Tiền lãi chỉ chảy về phía những đồng đã được đem đi stake, tức là đã đổi sang sUSDe. Ai không làm bước đó thì lợi suất của họ đúng bằng không.
Cơ chế tích lũy của sUSDe cũng không giống hình dung thông thường. Bạn sẽ không thấy đồng nào mới rơi vào ví theo ngày. Số lượng sUSDe bạn cầm giữ nguyên, cái thay đổi là tỷ lệ quy đổi: mỗi sUSDe theo thời gian đổi được ra nhiều USDe hơn. Cho nên muốn biết mình có đang nhận lãi hay không, chỗ cần mở ra xem là tỷ lệ quy đổi giữa sUSDe và USDe. Nếu khái niệm staking còn lạ, bài staking là gì dựng lại phần nền.
Đường quay ra có một chi tiết cần biết trước khi vào: khi đổi sUSDe về lại USDe, có một khoảng thời gian chờ. Trước đây khoảng chờ này cố định bảy ngày, về sau đổi thành co giãn từ một tới bảy ngày tùy vào lượng tài sản thanh khoản cao đang có trong rổ thế chấp. Trong quãng chờ đó, số tiền không nằm trong tay bạn để bán, để chuyển hay để làm gì khác.
Khoảng chờ có là vì muốn trả USDe ra thì giao thức phải tháo bớt vị thế bán khống tương ứng. Tháo vị thế trong lúc thị trường đang căng thì phải chấp nhận mức giá xấu, và phần thiệt đó cuối cùng rơi vào giá trị của cả gói. Khoảng chờ là cái phanh để việc tháo vị thế diễn ra có trật tự, và nó dài ngắn theo lượng tài sản dễ bán đang nằm trong rổ.
Ba cách nhận lãi, ba kiểu ràng buộc
- Stake thẳng trên chuỗi. Bạn tự giữ khóa, tự bấm stake, chịu phí mạng lưới, và chịu đúng khoảng chờ của giao thức khi rút. Không có ai đứng giữa.
- Sản phẩm Earn của sàn. Sàn làm phần staking thay bạn và trả lại một mức lợi suất. Điều khoản rút, thời gian chờ và mức chia do sàn tự đặt ra, nên chúng có thể lệch với con số của giao thức. Cách các sản phẩm này vận hành được nói kỹ trong bài crypto earn là gì, còn một ví dụ cụ thể có ở bài staking trên Bybit.
- Mua qua thị trường thứ cấp. Ở một số nơi có thể mua thẳng token sUSDe. Lúc này bạn không đi qua bước stake, nhưng vẫn cần để ý mình mua ở mức nào so với tỷ lệ quy đổi hiện hành.
Trước khi chọn một trong ba đường, hãy mở điều khoản rút của nơi bạn định gửi và ghi lại ba thứ: khoảng chờ mất mấy ngày, khóa nằm trong tay ai, và mức lợi suất đang hiển thị được tính theo mốc nào.
7. Từ VND đến chỗ thật sự nhận lãi: các chặng và chỗ hay vấp
Phần lớn người Việt đi theo cùng một đường: chuyển khoản VND qua P2P để mua USDT, rồi từ USDT đi tiếp. Vẽ USDe và sUSDe lên đúng con đường đó thì mọi thứ rõ ra ngay.
Bốn chặng, và chỗ hay nhầm nằm giữa chặng ba với chặng bốn
- VND sang USDT. Chuyển khoản ngân hàng qua P2P, nhận USDT về tài khoản sàn. Chặng này ai cũng quen.
- USDT sang USDe. Đổi qua cặp giao dịch giao ngay trên sàn có niêm yết, hoặc rút ra ví rồi đổi trên sàn phi tập trung. Xong chặng này bạn đang cầm một đồng đô la tổng hợp.
- Đang cầm USDe. Số dư đứng im. Chưa có đồng lãi nào. Rất nhiều người dừng ở đây mà tưởng mình đã xong.
- Chuyển sang trạng thái nhận lãi. Stake thành sUSDe trên chuỗi, hoặc đưa vào sản phẩm Earn của sàn có hỗ trợ. Từ lúc này tỷ lệ quy đổi mới bắt đầu nhích lên.
Chặng ba và chặng bốn nằm trong hai ô khác nhau, dù trên giao diện sàn chúng chỉ cách nhau một cú bấm. Đây là chỗ đáng kiểm tra lại nhất sau khi thao tác xong.
Trước khi bấm nút, xem lại mấy chỗ hay vấp
- Chọn nhầm mạng lưới khi rút. USDe và ENA chỉ tồn tại trên một số mạng nhất định, và danh sách mạng mà mỗi sàn hỗ trợ cũng khác nhau. Chọn sai lúc rút là chuyện xảy ra thường xuyên và xử lý rất mệt; bài gửi crypto nhầm mạng nói rõ nên làm gì trong tình huống đó.
- Phí mạng không co lại theo số tiền. Thao tác stake trên chuỗi tốn phí gần như cố định dù bạn stake nhiều hay ít. Với khoản nhỏ, phần phí cho vài thao tác có thể ăn hết tiền lãi của cả một quãng dài.
- Thời gian chờ nằm ở đường về. Lúc rút mới gặp khoảng chờ, và nó dài ngắn theo rổ thế chấp. Khoản tiền có thể phải dùng gấp thì không hợp với hình dạng này.
- Số dư đó có đang làm ký quỹ không. Đang được dùng làm tài sản ký quỹ mà giá hiển thị giật một nhịp thì vị thế bị đóng theo con số đó, và giá quay lại cũng không mở lại được.
- Giao diện mỗi nơi mỗi khác. Danh sách sản phẩm hiện trên màn hình thay đổi theo khu vực, nên cách chính xác nhất là mở đúng tài khoản của bạn ra xem, thay vì tin vào ảnh chụp màn hình của người khác.
- Ghi lại giao dịch. Ghi mốc thời gian, số lượng, tỷ lệ quy đổi lúc vào và đã stake hay chưa. Sau vài tháng bạn sẽ không nhớ nổi, mà đây là dữ liệu cần cho việc đối chiếu.
Về chỗ giữ tài sản, stake trên chuỗi và dùng sản phẩm của sàn là hai lựa chọn ngang hàng nhau. Sàn tiện và bớt thao tác, đổi lại tài sản nằm ở chỗ người khác giữ. Stake trên chuỗi thì bạn tự giữ khóa và tự chịu trách nhiệm với thao tác của mình. Khi số tiền lớn dần, tự giữ khóa là hướng nhiều người chọn.
Những nơi có sẵn đường đi
Vài sàn tích hợp USDe sâu hơn phần còn lại: có cặp giao dịch giao ngay, cho dùng làm tài sản ký quỹ, và có sản phẩm sinh lời gắn với nó. ENA thì niêm yết rộng hơn nhiều.
Binance
Bybit
Gate.io
Danh sách sản phẩm hiện ra trên màn hình khác nhau tùy khu vực, nên hãy đối chiếu bằng chính tài khoản của bạn. Mua xong, mở lại phần số dư và xem dòng đó đang ghi USDe hay sUSDe.
8. Lần theo dòng tiền: ai đang thật sự trả khoản lãi này
Vậy khoản lãi đó ai móc túi ra trả? Câu trả lời nằm ở một cơ chế mà bất cứ ai từng mở lệnh đòn bẩy đều đã gặp, dù có để ý hay không.
Hợp đồng vĩnh cửu là loại hợp đồng không có ngày đáo hạn. Không có ngày đáo hạn thì cũng không có lực nào tự nhiên kéo giá hợp đồng về sát giá giao ngay, nên sàn dựng ra một khoản thanh toán định kỳ giữa hai phe gọi là phí funding. Khi số người muốn mua vượt trội, phe mua trả cho phe bán. Khi tâm lý đảo chiều và phe bán chiếm ưu thế, dòng chảy đi ngược lại. Cơ chế này được mô tả kỹ hơn trong bài spot và futures là gì.
Ethena đứng ở phe bán khống. Vị thế dùng để giữ thăng bằng cho rổ thế chấp cũng chính là vị thế nhận phí funding trong những giai đoạn phe mua đông hơn. Nói thẳng ra: phần lớn tiền lãi mà sUSDe nhận được là tiền của những người đang mở vị thế mua có đòn bẩy trên thị trường phái sinh.
Nếu bạn từng long và thấy tài khoản bị trừ một khoản nhỏ vài tiếng một lần, thì đúng, khoản đó chảy sang phía bên kia của thị trường, và một phần trong đó là nguồn lãi của những người đang cầm sUSDe. Đó là cách thị trường hợp đồng vĩnh cửu kéo giá hợp đồng bám sát giá giao ngay. Hai vai trò nằm trên cùng một sàn, và một người hoàn toàn có thể đứng ở cả hai phía cùng lúc.
| Tiền lãi đến từ đâu | Ai là người trả | Khi nào teo lại |
|---|---|---|
| Phí funding của hợp đồng vĩnh cửu | Người mở vị thế mua có đòn bẩy | Thị trường nguội, phe mua thưa dần thì teo ngay; phe bán lấn át thì đảo sang âm |
| Phần thưởng staking của ETH trong rổ thế chấp | Mạng lưới Ethereum phát hành mới | Tỷ trọng ETH đã stake trong rổ giảm thì phần này giảm theo |
| Lãi từ phần thế chấp là tiền mặt và stablecoin | Lãi suất ngắn hạn trên thị trường | Mặt bằng lãi suất hạ thì phần này hạ |
| (Không phải nguồn thu) Quỹ dự phòng | Phần giao thức trích lại từ trước | Lớp đệm dành cho những quãng âm, không phải chỗ sinh ra tiền lãi |
Cả ba dòng thu đó đều không do ai ấn định trước. Không có ban lãnh đạo nào họp rồi công bố mức lãi cho tháng sau, cũng không có hợp đồng nào ghi sẵn con số. Mức phần trăm hiện lên màn hình được cộng lại từ phí funding, phần thưởng staking và lãi tiền mặt đã thực nhận trong quãng vừa qua.
9. Những ngày dòng tiền chảy ngược, và lớp đệm mỏng nằm ở giữa
Phe mua không phải lúc nào cũng đông hơn phe bán. Những ngày dòng phí funding chảy ngược đã được thống kê lại, và đây là dữ liệu nhiều năm tính tới năm 2026.
| Hạng mục | Con số | Đọc thế nào |
|---|---|---|
| Tỷ lệ ngày lãi gộp bị âm (nhóm ETH) | 17,5% | Trung bình cứ khoảng sáu ngày thì có một ngày lãi gộp rơi xuống dưới không |
| Tỷ lệ ngày lãi gộp bị âm (nhóm BTC) | 15,9% | Bên BTC tần suất tương đương |
| Chuỗi ngày âm dài nhất từng ghi nhận | 13 ngày | Các quãng âm có xu hướng quay về mức trung bình sau một thời gian ngắn |
| Mức âm cực đoan từng xuất hiện | Có lúc chạm -300% quy năm, vào tháng 9/2022 | Thời điểm Ethereum chuyển sang cơ chế staking, dòng lệnh dồn hết về một phía |
| Mức trung bình dài hạn | Quy năm khoảng 9,15% với ETH và 7,80% với BTC | Trung bình dương, nhưng trung bình không nói gì về một ngày cụ thể |
Thiết kế của giao thức xử lý những ngày đó theo cách sau: khi lãi gộp âm, con số âm ấy không được đẩy xuống tỷ lệ quy đổi của sUSDe. Quỹ dự phòng đứng ra gánh. Người cầm sUSDe trong quãng đó thấy lợi suất bằng không hoặc gần không, còn tỷ lệ quy đổi thì đứng yên tại chỗ.
Chỗ cần nhìn thẳng là kích cỡ của lớp đệm. Quỹ dự phòng chỉ ở quy mô quanh 1% nguồn cung theo số liệu năm 2026, và con số đó được xây dựa trên giả định rằng các quãng âm ngắn và có tính quay về trung bình, đúng như lịch sử đã cho thấy. Một vài mô hình rủi ro độc lập từng ước lượng mức cần thiết còn thấp hơn nhiều so với quy mô quỹ đang có. Giả định đó có dữ liệu đứng sau, nhưng vẫn là giả định về tương lai dựng trên quá khứ, và cũng không có cam kết bảo toàn vốn nào đi kèm.
10. Nguồn cung tụt mạnh trong khi một đô la vẫn đổi được một đô la
Một chuyện thường bị đọc sai: nguồn cung USDe từng phình rất to rồi tụt xuống chỉ còn một phần nhỏ so với đỉnh. Nhiều người nhìn biểu đồ đó rồi kết luận đồng tiền này đã hỏng. Thực ra trong suốt quãng tụt ấy, một USDe vẫn quy đổi được ra một đô, việc phát hành và quy đổi vẫn chạy bình thường. Hai chuyện khác nhau đang bị gộp làm một: quy mô của nguồn cung, và khả năng giữ giá.
Muốn hiểu vì sao nguồn cung co lại thì phải biết phần lớn nhu cầu ấy đến từ đâu. Phần lớn nó sinh ra từ một cấu trúc đòn bẩy được lặp đi lặp lại, dân trong ngành gọi là vòng lặp:
- Stake USDe thành sUSDe để nhận lãi.
- Đem sUSDe qua một nền tảng tách phần sinh lời, đổi lấy dạng token có lợi suất cố định.
- Mang token đó vào giao thức cho vay làm tài sản thế chấp, vay ra stablecoin.
- Lấy stablecoin vừa vay mua thêm USDe, rồi quay lại bước một.
Mỗi vòng lặp làm phình thêm nhu cầu USDe. Ở giai đoạn cao điểm, riêng phần dư nợ và tài sản liên quan tới cấu trúc này nằm trong một giao thức cho vay lớn đã lên tới hàng tỷ đô, và có ước lượng cho rằng khoảng một phần ba lượng sUSDe đang ở trạng thái có đòn bẩy. Điều đáng nói là toàn bộ cấu trúc này chỉ có lý khi lợi suất của sUSDe cao hơn chi phí đi vay.
Nên khi lợi suất của sUSDe hạ xuống dưới lãi suất vay stablecoin trên thị trường cho vay, phép trừ ra số âm và cả cấu trúc tự tháo. Người ta trả nợ, gỡ vị thế, quy đổi USDe về. Không cần hoảng loạn, không cần tin xấu, không cần một cú thanh lý nào. Chỉ cần con số bên này nhỏ hơn con số bên kia là dòng chảy tự đảo chiều, và vì rất nhiều người cùng làm phép trừ đó cùng lúc nên nguồn cung rút đi rất nhanh. Nói cách khác, một phần lớn lượng USDe từng tồn tại là nhu cầu vay mượn, và nhu cầu kiểu đó chỉ ở lại chừng nào phép trừ còn dương.
Nguồn cung co lại còn kéo theo một chuyện nữa: thanh khoản ở thị trường thứ cấp cũng mỏng đi. Cá nhân cầm USDe ra hàng bằng chính lớp thanh khoản đó, nên với khoản lớn thì độ sâu của cặp giao dịch và mức trượt giá là hai thứ nên bấm thử trước bằng một lệnh nhỏ. Bài DeFi là gì mô tả kỹ hơn mấy mảnh ghép cho vay và giao dịch trên chuỗi mà vòng lặp này đi qua.

11. Mấy con số già đi nhanh nhất, kèm mốc thời gian của từng con số
Mấy con số dưới đây già đi rất nhanh, nên mỗi dòng đều ghi kèm mốc thời gian của nó. Cơ cấu rổ thế chấp và mức lợi suất là hai dòng đổi nhanh nhất, đáng mở lại xem mỗi lần bạn định thao tác.
| Hạng mục | Con số ghi nhận | Mốc đọc | Vì sao nó đổi |
|---|---|---|---|
| Cơ cấu rổ thế chấp | Tài sản thanh khoản cao và stablecoin quanh 43,8%; BTC 34,9%; ETH 14,7%; WBETH 3,6%; mETH 1,3%; stETH 1,2% | Trong năm 2026, thay đổi liên tục | Giao thức dịch chuyển rổ theo điều kiện thị trường. Thời kỳ đầu rổ nghiêng hẳn về ETH và ETH đã stake, sau đó dồn nhiều hơn về stablecoin và BTC |
| Lợi suất thực nhận của sUSDe | Giai đoạn 2024 tới 2025 dao động trong khoảng 4% tới 30% quy năm, phần lớn thời gian nằm quanh 8% tới 18% | Lịch sử hai năm | Bám theo phí funding, tức là bám theo mức độ đông đúc của phe mua |
| Phần thưởng staking của ETH trong rổ | Quanh 3% quy năm, tính trên riêng phần ETH đã stake chứ không phải trên cả rổ | Trong năm 2026 | Bám theo mức phát hành của mạng Ethereum và theo tỷ trọng ETH đã stake trong rổ |
| Xu hướng gần đây của lợi suất | Khoảng 9,4% rồi hạ về khoảng 7,1% theo đường trung bình bảy ngày | Tháng 4 tới tháng 6 năm 2026 | Phí funding nguội dần |
| Quy mô quỹ dự phòng | Khoảng 62 triệu đô, tương đương 1,061% nguồn cung | Ngày 2 tháng 4 năm 2026 | Quỹ đổi theo phần trích lập và theo quy mô nguồn cung |
| Nguồn cung USDe | Từ vùng đỉnh trên 14 tỷ đô, sau đợt thanh lý lớn còn quanh 8,5 tỷ, tới giữa năm 2026 quanh 3,8 tới 4,1 tỷ | Giữa năm 2026 | Nhu cầu đòn bẩy đổ vào rồi rút ra, tùy lợi suất của sUSDe đang cao hơn hay thấp hơn chi phí đi vay |
| Token ENA | Tổng cung tối đa 15 tỷ, lượng lưu thông quanh 7,96 tỷ | Đầu năm 2026 | Phần chưa lưu thông được mở khóa dần theo lịch của giao thức |
Con số phần trăm hiển thị cũng nên đọc kèm kỳ tính của nó. Mức lợi suất trên màn hình sàn hay trên trang của giao thức đều được cộng từ một quãng đã trôi qua: phe mua đông tới đâu thì phí funding cao tới đó, phe mua thưa đi thì nó xuống theo. Có nơi lấy bình quân bảy ngày, có nơi lấy quãng dài hơn. Trước khi đặt hai con số của hai nơi cạnh nhau, hãy xem chúng có cùng độ dài kỳ tính hay không.
12. Màn hình một sàn hiện 0,65 đô, trên chuỗi vẫn 0,99: số nào mới tính
Có ba con số cùng được gọi là giá của USDe, và mỗi con số đo một thứ. Giá hiện trên màn hình một sàn là sổ lệnh của riêng sàn đó tại đúng khoảnh khắc đó, do người đang đặt lệnh ở chính nơi đó tạo ra. Giá trên chuỗi là tỷ lệ trao đổi ở các pool thanh khoản phi tập trung, phụ thuộc vào độ sâu của pool. Còn giá trị quy đổi là giá trị của rổ tài sản thế chấp phía sau mỗi đồng, tính cả phần lãi lỗ của vị thế đối ứng. Lẫn ba con số này vào nhau là chỗ đẻ ra gần hết mấy hiểu lầm nặng nhất về đồng này.
Có một lần cả ba con số này tách hẳn nhau ra, và đó là bằng chứng tốt nhất cho việc chúng độc lập. Trong một đợt thanh lý quy mô lớn trên toàn thị trường, màn hình Binance hiện mức giá USDe thấp tới quanh 0,65 đô. Cùng thời điểm đó, giá trên các pool thanh khoản phi tập trung vẫn quanh 0,99. Việc phát hành và quy đổi qua giao thức vẫn chạy, và trong vòng 24 giờ có khoảng hai tỷ đô được quy đổi trót lọt theo giá trị rổ thế chấp.
Nguyên nhân nằm ở cách Binance định giá tài sản thế chấp trong tài khoản hợp nhất: nó lấy sổ lệnh giao ngay của chính mình làm căn cứ thay vì lấy nguồn giá bên ngoài. Sổ lệnh mỏng đi trong lúc thị trường hỗn loạn, con số hiện lên rơi rất sâu, trong khi tài sản phía sau mỗi đồng chẳng hề đổi. Cách định giá này được sửa sau đó.
Giá trị quy đổi được tính theo rổ thế chấp đang nằm sau mỗi đồng, còn con số trên màn hình một sàn được tính theo sổ lệnh của chính sàn đó trong khoảnh khắc đó. Hai phép tính, hai kết quả, và lúc thị trường yên thì chúng gần như trùng nhau.

13. Tài sản thế chấp nằm ở đâu, ai còn có thể làm hỏng chuyện
Rổ thế chấp trị giá hàng tỷ đô phải nằm ở đâu đó, và chỗ nó nằm quyết định gần hết mấy rủi ro còn lại. Điểm đáng chú ý là tài sản không nằm trong tài khoản của sàn phái sinh, dù vị thế bán khống được mở trên sàn.
Cơ chế này gọi là quyết toán ngoài sàn. Tài sản được gửi ở các đơn vị lưu ký chuyên trách, sàn nhìn thấy tài sản để chấp nhận cho mở vị thế, nhưng quyền sở hữu thực tế không chuyển sang sàn. Chỉ có phần lãi lỗ của vị thế được quyết toán qua lại theo chu kỳ, có nơi thực hiện theo ngày. Nghĩa là nếu một sàn gặp chuyện, phần bị kẹt tối đa dừng ở phần lãi lỗ chưa quyết toán của chu kỳ đang chạy, còn rổ thế chấp vẫn nằm bên chỗ lưu ký.
Cấu trúc đó cắt bớt một loại rủi ro lớn, đổi lại nó kéo thêm mấy bên đối tác mới vào cuộc. Tài sản nằm ở đơn vị lưu ký, nên khả năng vận hành và quy trình nội bộ của chính đơn vị ấy thành một mắt xích. Sàn nơi đặt vị thế đối ứng là mắt xích thứ hai: sàn dừng giao dịch, đổi quy tắc ký quỹ hay trục trặc kỹ thuật thì vị thế phòng hộ không chỉnh được đúng lúc cần. Giữa hai lần quyết toán luôn có một khoảng hở mà phần lãi lỗ chưa về. Thị trường chạy quá nhanh thì mở hay đóng vị thế ở mức giá mong muốn là chuyện không chắc chắn. Và phần phát hành lẫn phần staking đều chạy bằng mã lệnh, mà mã lệnh nào cũng có rủi ro của nó.
Ai được quyền đòi quy đổi
Còn một chi tiết ít khi được nói thẳng ra. Quyền phát hành và quy đổi trực tiếp với giao thức thuộc về nhóm đối tác đã qua thẩm định danh tính doanh nghiệp và nằm trong danh sách được cấp phép. Một cá nhân cầm USDe trong ví không có quyền gõ cửa giao thức đòi đổi lấy một đô.
Lối ra của cá nhân là thị trường thứ cấp: bán trên sàn, đổi ở pool thanh khoản trên chuỗi. Trong điều kiện bình thường thì khác biệt này không cảm nhận được, vì các bên được cấp phép làm đúng việc kinh doanh chênh lệch giá và kéo giá thị trường về sát giá trị quy đổi. Khác biệt chỉ lộ ra trong những lúc thị trường căng, khi thanh khoản mỏng đi đúng vào lúc nhiều người cùng muốn ra. Trong những giờ như vậy, mức giá bạn bán được trên sàn và giá trị rổ thế chấp nằm sau mỗi đồng có thể lệch nhau.
14. Những câu nghe quen mà không đúng
Mấy câu dưới đây xuất hiện đi xuất hiện lại trong các nhóm chat. Đặt cạnh cách bộ máy vận hành thì thấy chúng lệch ở đâu.
| Câu hay nghe | Thực tế |
|---|---|
| Nó là stablecoin như USDT với USDC thôi | Cách giữ mốc một đô khác hẳn: một bên là kho dự trữ, một bên là rổ tài sản cộng vị thế bán khống. Những chỗ có thể hỏng vì thế cũng khác |
| Mua về để đó là có lãi | Chỉ phần đã stake thành sUSDe mới nhận. Cầm USDe đơn thuần thì lợi suất bằng không |
| Nguồn cung tụt mạnh nghĩa là mốc một đô đã vỡ | Đó là nhu cầu đòn bẩy rút đi khi phép trừ ra số âm. Trong suốt quãng đó việc quy đổi vẫn chạy bình thường |
| Binance từng hiện 0,65 đô, vậy là hỏng rồi | Cùng lúc ấy giá trên chuỗi quanh 0,99 và việc quy đổi vẫn diễn ra bình thường. Vấn đề nằm ở cách Binance định giá tài sản ký quỹ lúc đó |
| USDe phình ra thì ENA sẽ lên theo | Cơ chế chia phí đã bật, nhưng giá token là một thị trường riêng, còn chịu ảnh hưởng của phần cung chưa lưu thông |
| Mức phần trăm cao chứng tỏ sản phẩm tốt | Nó đo mức độ đông đúc của phe mua trên thị trường phái sinh trong quãng vừa rồi. Chất lượng của sản phẩm nằm ở chỗ khác |
| Lúc nào cũng đổi được ra một đô | Quyền quy đổi trực tiếp thuộc về nhóm đối tác được cấp phép. Lối ra của cá nhân là thanh khoản thị trường thứ cấp |
Có người đặt USDe cạnh những đồng thuật toán đời trước từng sụp. Điểm khác về cấu trúc nằm ở chỗ tài sản thế chấp ở đây là tài sản có thật nằm bên ngoài hệ thống, trong khi mấy đồng kia dựa vào token do chính hệ thống in ra để đỡ giá cho nhau. Những chỗ có thể trục trặc của USDe nằm ở vị thế đối ứng, ở nơi giữ tài sản và ở dòng phí funding.
Một hiểu lầm nữa ít được nói tới: nhiều người nghĩ mua sUSDe trên thị trường thứ cấp thì tránh được khoảng chờ. Đúng là mua bán token sUSDe không phải chờ, nhưng khi muốn đổi ngược về USDe qua giao thức thì khoảng chờ vẫn ở đó. Còn bán token sUSDe trên thị trường thì bạn phụ thuộc vào việc lúc ấy có ai mua hay không.
15. Bảng từ vựng cho mấy chữ hay bị đọc lướt
Mấy chữ dưới đây xuất hiện dày đặc trong tài liệu về Ethena và hay bị đọc lướt qua. Hiểu đúng chúng thì đọc bất kỳ sản phẩm sinh lời nào khác cũng nhanh hơn.
- Trung tính delta. Trạng thái mà giá trị của cả gói gần như không đổi dù thị trường lên hay xuống, vì phần tài sản nắm giữ và phần vị thế bán khống bù trừ cho nhau.
- Hợp đồng vĩnh cửu. Hợp đồng phái sinh không có ngày đáo hạn. Vì không đáo hạn nên cần một cơ chế riêng để kéo giá hợp đồng bám sát giá giao ngay.
- Phí funding. Khoản thanh toán định kỳ giữa hai phe của hợp đồng vĩnh cửu. Phe đông hơn trả cho phe ít hơn. Đây là nguồn lãi chính của bộ máy này.
- Đô la tổng hợp. Tài sản bám giá một đô bằng cách kết hợp nhiều vị thế thay vì giữ một kho dự trữ tiền mặt.
- LST. Token đại diện cho ETH đã stake, vẫn tiếp tục nhận phần thưởng staking trong khi được dùng như một tài sản bình thường.
- Vòng lặp đòn bẩy. Cách làm lặp lại chuỗi thao tác stake, thế chấp, vay và mua thêm để nhân nhiều lần phần chênh lệch giữa lợi suất và chi phí vay.
- Thời gian chờ. Khoảng thời gian bắt buộc khi đổi sUSDe về USDe, dài ngắn theo lượng tài sản thanh khoản cao đang có trong rổ thế chấp.
- Quyết toán ngoài sàn. Cách giữ tài sản ở đơn vị lưu ký độc lập trong khi vẫn mở được vị thế trên sàn, chỉ quyết toán phần lãi lỗ theo chu kỳ.
- Quỹ dự phòng. Khoản trích lập để gánh những quãng lãi gộp âm thay cho người cầm sUSDe. Quy mô của nó được công bố theo tỷ lệ phần trăm trên tổng nguồn cung.
- Danh sách được cấp phép. Nhóm đối tác đã qua thẩm định, có quyền phát hành và quy đổi trực tiếp với giao thức.
- Nguồn giá tham chiếu. Dữ liệu giá mà một hệ thống dùng để định giá tài sản ký quỹ. Lấy từ bên ngoài hay lấy từ sổ lệnh của chính mình sẽ cho hai kết quả khác nhau trong lúc thị trường căng.
Câu hỏi thường gặp về Ethena, USDe và sUSDe
Đọc tiếp: stablecoin hoạt động thế nào, và vì sao có loại trả lãi có loại không







