Bot grid trading hoạt động ra sao, từ một lệnh khớp đến lúc lưới dừng
Bot đặt sẵn lệnh giới hạn ở từng mức giá và lặp lại theo đúng bốn ô người dùng điền. Hai điều kiện để quy tắc đó có lãi, số dư còn lại khi điều kiện không còn đúng, và cách đọc từng ô số trên màn hình.
| Câu hỏi | Trả lời ngắn |
|---|---|
| Bot grid là gì | Tính năng có sẵn trong tài khoản sàn, đặt lệnh giới hạn ở từng mức giá trong khoảng do người dùng cài |
| Nó làm gì sau mỗi lần khớp | Khớp lệnh mua thì đặt lệnh bán cao hơn một bước, khớp lệnh bán thì đặt lệnh mua thấp hơn một bước |
| Hai điều kiện để quy tắc này có lãi | Giá đi lại trong khoảng đã cài, và bước giá rộng hơn phí hai chiều |
| Ngưỡng phí tính sẵn | Với phí 0,1% một chiều, bước giá phải rộng hơn 0,2002%; với 0,075% thì ngưỡng là 0,1501% |
| Khi giá vượt lên trên khoảng | Coin bán hết, chỉ còn tiền, bot ngừng đặt lệnh mới và không tham gia phần tăng tiếp theo |
| Khi giá xuống dưới khoảng | Tiền dùng hết, chỉ còn coin, khoản lỗ chưa đóng nằm nguyên trong tài khoản |
| Vì sao hai ô lãi lệch nhau | Ô lãi lưới (Grid Profit) chỉ đếm cặp đã khớp xong nên vẫn dương, còn tổng lãi lỗ gộp cả phần chưa đóng nên có thể âm |
| Phần trăm theo năm trên màn hình | Kết quả của quãng vừa chạy đem nhân với 365, đọc kèm số ngày bot đã chạy mới có nghĩa |
| Bản hợp đồng khác chỗ nào | Cùng quy tắc nhưng thêm thanh lý khi tỷ lệ ký quỹ duy trì chạm 100% và phí funding theo từng chu kỳ |
1. Lệnh mua khớp ở 53.000, lệnh bán được đặt lên 57.000: đi hết một vòng của bot
2. Trong bot không có phần nào đọc thị trường, chỉ có lệnh giới hạn nằm sẵn ở từng mức
3. Bốn ô bắt buộc trên màn hình, và hai cách chia mức lưới
4. Phép tính xong trước khi bật bot: bước giá phải rộng hơn phí của hai lần khớp
5. Khoảng giá rộng bao nhiêu thì chứa được tối đa bao nhiêu mức lưới
6. Giá lên trên cận trên: vòng lặp dừng lại khi số dư chỉ còn tiền
7. Giá xuống dưới cận dưới: chỉ còn coin, khoản lỗ chưa đóng nằm nguyên
8. Cùng quy tắc đó chạy trên hợp đồng vĩnh cửu: giá ra khỏi khoảng mà vị thế vẫn mở
9. Thanh lý khi tỷ lệ ký quỹ duy trì chạm 100%, và phí funding cộng vào từng chu kỳ
10. Từ ngữ trên màn hình bot, giải nghĩa ngắn
11. Grid Profit dương trong khi tổng lãi lỗ âm: mỗi ô đếm một thứ khác nhau
12. Phần trăm theo năm trên màn hình: quãng vừa chạy đem nhân cho 365
13. Tham số gợi ý tự động được tính từ bao nhiêu ngày giá đã qua
14. Những việc bot không tự làm, và mấy câu hay nghe về bot grid
Một lệnh mua khớp ở mức 53.000. Ngay sau đó, một lệnh bán mới xuất hiện ở mức 57.000, cao hơn đúng một bước. Lệnh bán khớp, và lệnh mua ở 53.000 lại được đặt trở lại. Bot grid làm đúng ba việc ấy và lặp lại chừng nào giá còn ở trong khoảng đã cài. Vòng lặp đó chỉ để lại tiền khi giá đi lại nhiều lần trong khoảng và khi bước giá rộng hơn phí hai chiều. Giá ra khỏi khoảng thì bot ngừng đặt lệnh mới, và số dư còn lại chỉ có tiền hoặc chỉ có coin. Trên hợp đồng vĩnh cửu, đúng quy tắc ấy chạy kèm đòn bẩy, thanh lý và phí funding.

1. Lệnh mua khớp ở 53.000, lệnh bán được đặt lên 57.000: đi hết một vòng của bot
Bộ số dưới đây lấy nguyên từ ví dụ tính toán trong tài liệu trợ giúp của Bybit. Cặp BTC/USDT, giá thị trường lúc tạo bot là 54.000 USDT. Người dùng điền cận trên 65.000, cận dưới 45.000, số mức lưới là 5, tổng vốn 23.610 USDT. Khoảng giá rộng 20.000, chia thành 5 phần nên bước giá bằng 4.000. Năm phần đó nằm giữa sáu mốc giá: 45.000, 49.000, 53.000, 57.000, 61.000 và 65.000.
Ngay khi bot chạy, nó đặt sẵn lệnh giới hạn ở từng mức: lệnh mua ở các mức nằm dưới giá hiện tại, lệnh bán ở các mức nằm trên. Không có lệnh nào chờ tín hiệu, tất cả đã nằm trên sổ lệnh.
Giá đi xuống 53.000. Lệnh mua ở mức đó khớp, tài khoản nhận 0,08795882 BTC. Đúng lúc khớp xong, bot đặt một lệnh bán mới ở mức cao hơn một bước, tức 57.000. Giá quay lên 57.000, lệnh bán khớp. Một vòng vừa đóng lại.
Vòng đó để lại bao nhiêu thì tính được ngay. Phí giao dịch của cả hai lần khớp là (0,08795882 + 0,08787086) × 0,1% × 57.000 = 10,02 USDT. Lấy chênh lệch giá 4.000 × 0,08795882 trừ đi khoản phí 10,02 thì còn 341,81 USDT. Đó chính là con số Bybit ghi vào ô lãi lưới (Grid Profit) trong ví dụ của họ.
Bán xong ở 57.000, bot lập tức đặt lại lệnh mua ở 53.000. Nếu giá xuống nữa và khớp, nó lại treo lệnh bán ở 57.000. Cứ thế lặp: khớp bên nào thì đặt lệnh ngược lại cách một bước.
2. Trong bot không có phần nào đọc thị trường, chỉ có lệnh giới hạn nằm sẵn ở từng mức
Bot nhận ba con số (khoảng giá, số mức lưới, vốn) rồi đặt lệnh theo đúng ba con số ấy. Bên trong không có phần nào dự đoán hướng giá, không có phần nào đọc tin tức, cũng không có phần nào xác định đâu là đáy hay đỉnh. Nó chỉ so giá hiện tại với danh sách mức đã tính sẵn.
Điều này được chính sàn nói thẳng. Tài liệu của Binance ghi rằng bot giao dịch sẽ thực hiện mọi lệnh ngay khi giá chạm khoảng đã cài, kể cả trong lúc thị trường lao dốc hay tăng vọt. Nói cách khác, khi giá rơi liên tục qua từng mức, bot vẫn mua tiếp ở mức thấp hơn, rồi mức thấp hơn nữa, cho tới hết tiền hoặc hết khoảng. Quy tắc chạy không có điều kiện nào để dừng giữa chừng, nên lệnh mua ở mức thấp tiếp theo vẫn được đặt đúng như các mức phía trên.
Kết quả cuối cùng vì thế phụ thuộc vào việc giá có đi lại nhiều lần trong khoảng đã cài hay không. Khoảng giá và số mức là do người dùng nhập, còn phần bot làm chỉ là đặt lệnh đúng ở các mức đó.
Vì phần thao tác đã tự động hoá hoàn toàn, số lần khớp lệnh trong ngày có thể rất lớn, và chi phí giao dịch của một chiến lược sinh nhiều lệnh khớp không còn là khoản lẻ.
3. Bốn ô bắt buộc trên màn hình, và hai cách chia mức lưới
Màn hình tạo bot grid giao ngay chỉ có bốn ô bắt buộc: cận trên, cận dưới, số mức lưới, tổng vốn. Bản chạy trên hợp đồng có thêm hai ô nữa là chế độ và đòn bẩy. Bốn ô này quyết định mọi con số còn lại bằng phép tính, không có gì phải đoán.
Bước giá bằng khoảng giá chia cho số mức. Vốn cho mỗi lệnh bằng tổng vốn chia cho số mức. Với bộ số của ví dụ Bybit: (65.000 − 45.000) ÷ 5 = 4.000 cho bước giá, và 23.610 ÷ 5 = 4.722 USDT cho mỗi lệnh. Hai phép chia này quyết định luôn mức lãi tối đa của một vòng và số vòng có thể chạy song song.
| Ô cần điền | Nó quyết định điều gì | Điền lệch thì chuyện gì xảy ra |
|---|---|---|
| Cận trên | Mức cao nhất mà bot còn bán ra | Đặt thấp quá thì giá sớm vượt lên trên, coin bán hết và bot đứng yên với toàn tiền |
| Cận dưới | Mức thấp nhất mà bot còn mua vào | Đặt cao quá thì giá sớm xuyên xuống dưới, tiền dùng hết và chỉ còn coin trong tài khoản |
| Số mức lưới | Bước giá và vốn cho mỗi lệnh | Chia càng nhỏ thì khớp càng nhiều nhưng phần còn lại sau phí của mỗi vòng càng mỏng |
| Tổng vốn | Vốn cho mỗi lệnh, và số mức thực sự dùng được | Vốn mỗi lệnh tụt xuống dưới mức tối thiểu của sàn thì hệ thống không cho tạo bot |
Ô tổng vốn có một ràng buộc ít người để ý. Mỗi sàn đều có giá trị lệnh tối thiểu, nên cấu hình kiểu chia thật nhiều mức với số vốn nhỏ bị chặn ngay từ khâu tạo. Bybit ghi rõ rằng ô tổng vốn hiển thị mức tối thiểu và tối đa tương ứng với khoảng giá và số mức vừa nhập. Khoảng giá cũng không nhận giá trị tuỳ ý: mỗi sàn chỉ cho cận trên và cận dưới nằm trong một khoảng bội số quanh giá thị trường, và các bội số này khác nhau tuỳ sàn.
Về nguồn tiền, Bybit chuyển số vốn cần thiết từ tài khoản Funding sang khi tạo bot, và trả vốn cùng phần lãi về lại tài khoản Funding khi bot dừng. Trong lúc bot còn chạy, phần lãi vẫn ở trong bot và chưa rút thẳng ra được.
Chia bước đều theo số tiền hay đều theo phần trăm
Cùng bốn ô đó nhưng có hai kiểu chia. Kiểu số học chia đều theo số tiền: bước giá d = (cận trên − cận dưới) ÷ số mức. Kiểu cấp số nhân chia đều theo phần trăm: tỷ lệ giữa hai mức liền nhau r = (cận trên ÷ cận dưới) mũ (1 ÷ số mức).
Khác biệt nhìn thấy ngay bằng số. Với khoảng 45.000 đến 65.000 chia 5 mức theo kiểu số học, mỗi bước là 4.000 USDT, nhưng bước từ 45.000 lên 49.000 tương đương 8,89% còn bước từ 61.000 lên 65.000 chỉ tương đương 6,56%. Cùng khoảng đó chia theo kiểu cấp số nhân thì mỗi bước đều bằng 7,63%, ở đáy khoảng cũng như ở đỉnh khoảng.
Công thức lãi mỗi vòng đã trừ phí mà Binance công bố viết đủ cho cả hai kiểu chia, với c là phí một chiều. Với kiểu cấp số nhân, lãi mỗi vòng = (1 − c) × r − 1 − c. Với kiểu số học, lãi lớn nhất mỗi vòng = (1 − c) × d ÷ cận dưới − 2c và lãi nhỏ nhất mỗi vòng = (cận trên × (1 − c)) ÷ (cận trên − d) − 1 − c. Cả hai công thức đã trừ phí hai chiều, nên số tiền còn lại của một vòng đã tính được ngay lúc điền xong bốn ô.
4. Phép tính xong trước khi bật bot: bước giá phải rộng hơn phí của hai lần khớp
Một vòng gồm một lệnh mua và một lệnh bán, nên phí giao dịch bị tính hai lần. Với mức phí phổ biến 0,1% một chiều, mỗi vòng mất 0,2 điểm phần trăm cho phí. Từ đó suy ra ngưỡng: bước giá phải rộng hơn 0,2 điểm phần trăm thì vòng đó mới còn lại gì.
Cho công thức lãi mỗi vòng ở mục trên bằng 0 trên một lưới chia đều theo phần trăm, tỷ lệ giữa hai mức liền nhau ra đúng một giá trị: r = (1 + c) ÷ (1 − c). Thay c = 0,1% được r = 1,002002, tức bước giá 0,2002%. Bước hẹp hơn con số này thì mỗi lần khớp là một lần lỗ, và số lần khớp càng nhiều thì khoản lỗ càng chồng lên. Nếu phí hạ còn 0,075% nhờ cách trả phí có chiết khấu, ngưỡng lùi xuống 0,1501%. Hai con số này là kết quả thay số vào công thức của Binance, không phải giá trị sàn công bố sẵn.
| Bước giá | Phí hai chiều chiếm bao nhiêu | Phần còn lại của một vòng |
|---|---|---|
| 0,2% | 100% | Không còn gì |
| 0,3% | khoảng 67% | 0,1 điểm phần trăm |
| 0,5% | 40% | 0,3 điểm phần trăm |
| 1% | 20% | 0,8 điểm phần trăm |
| 2% | 10% | 1,8 điểm phần trăm |
| 5% | 4% | 4,8 điểm phần trăm |
Bảng trên tính với phí hai chiều 0,2 điểm phần trăm. Ở mức phí 0,075% một chiều, cột giữa nhỏ lại và ngưỡng hoà vốn lùi về 0,1501%, còn hình dạng của bảng thì giữ nguyên: bước càng hẹp, phần phí ăn càng lớn.
Trong ví dụ của Bybit, bước 4.000 trên nền giá 53.000 tương đương khoảng 7,55%, tức còn rộng hơn cả hàng cuối của bảng trên, nên phần phí trong vòng đó nhỏ. Cũng khoảng giá ấy nhưng chia thành vài chục mức thay vì 5 mức thì bước giá tụt xuống mấy hàng đầu bảng, chỗ phí chiếm phần lớn của mỗi vòng.
Sàn không thu thêm khoản nào cho việc tạo và duy trì bot. Tài liệu của Bybit ghi rằng bot grid giao ngay chỉ tính phí giao dịch giao ngay khi có lệnh khớp, ngoài ra không có khoản nào khác. Nhưng bản chất chiến lược này là tạo ra thật nhiều lệnh khớp, nên chi phí tích lại theo số lần khớp. Biểu phí áp dụng đúng bằng biểu phí giao ngay thông thường của tài khoản, ở Binance bậc thường là 0,100% cho cả maker và taker, còn 0,075% khi trả phí bằng BNB.
Vì phí gắn với bậc tài khoản, hai người cài y hệt nhau vẫn có ngưỡng hoà vốn khác nhau. Ngưỡng đó tính từ biểu phí và cách giảm phí ghi trên trang phí của từng sàn.
5. Khoảng giá rộng bao nhiêu thì chứa được tối đa bao nhiêu mức lưới
Ô số mức lưới có trần do sàn đặt, nhưng trần thật sự nằm ở phép tính bước giá. Khoảng giá rộng bao nhiêu thì chứa được bấy nhiêu bước có ý nghĩa.
Thử với một khoảng mà cận trên cao hơn cận dưới 30%, chia theo kiểu cấp số nhân. Muốn mỗi bước vẫn rộng hơn ngưỡng hoà vốn 0,2002%, số mức tối đa vào khoảng 131. Chia nhỏ hơn nữa thì mọi mức đều nằm dưới ngưỡng, tức toàn bộ lưới lỗ theo cấu trúc chứ không phải lỗ vì thị trường. Con số 131 là kết quả thay số vào công thức, và nó thay đổi theo phí của từng tài khoản cũng như theo độ rộng khoảng giá.
Sàn biết điều này nên tự chặn trước. Bybit ghi trong tài liệu rằng khi khoảng giá cài đặt hẹp, số mức lưới tối đa sẽ giảm xuống, và nêu rõ mục đích là để lãi lưới lớn hơn phí giao dịch trong điều kiện thị trường bình thường. Nghĩa là ô số mức bị giới hạn thấp hơn dự tính chính vì bước giá còn lại đã chạm ngưỡng hoà vốn.
| Sàn và loại bot | Số mức lưới | Số bot chạy cùng lúc | Giới hạn khác ghi trong tài liệu |
|---|---|---|---|
| Binance, grid giao ngay | 2 đến 500 | 50 chiến lược cho tất cả cặp | Kiểu đặt lệnh động treo tối đa 170 lệnh quanh giá hiện tại |
| Binance, grid hợp đồng USDⓈ-M | 2 đến 1.000 | 99 bot, gồm 50 chế độ toàn phần và 49 chế độ tách biệt | Tổng lãi tính gộp cả phí funding |
| Binance, grid hợp đồng COIN-M | tối đa 169 | 50 bot | Ký quỹ bằng coin thay vì bằng stablecoin |
| Bybit, grid giao ngay | 2 đến 200 | theo hạn mức của sàn | Khoảng giá hẹp thì số mức tối đa tự giảm. Cận trên nằm trong vùng 0,8 đến 3 lần giá thị trường, cận dưới trong vùng 0,3 đến 1,2 lần |
| Bybit, grid hợp đồng | 2 đến 400 | 50 bot | Chỉ áp dụng cho hợp đồng vĩnh cửu USDT |
Các giá trị trong bảng lấy từ trung tâm trợ giúp của Binance và Bybit. Đây là loại số liệu sàn có thể điều chỉnh, và bản trên trang trợ giúp của sàn luôn là bản đang áp dụng.
Còn một ràng buộc nữa cũng giới hạn số mức. Tăng số mức làm vốn mỗi lệnh nhỏ đi, và khi nó chạm giá trị lệnh tối thiểu của sàn thì cấu hình bị từ chối. Phí giới hạn số mức theo bước giá, giá trị lệnh tối thiểu giới hạn số mức theo vốn mỗi lệnh, và số mức dùng được là con số nhỏ hơn trong hai con số đó.

6. Giá lên trên cận trên: vòng lặp dừng lại khi số dư chỉ còn tiền
Giá lên tới 65.000 rồi đi tiếp. Tất cả lệnh bán trong lưới đã khớp hết, nên trong tài khoản của bot không còn BTC nữa, chỉ còn USDT. Không còn coin để bán, mà giá lại nằm trên cận trên nên cũng không có mức mua nào để treo. Bot đứng yên.
Binance mô tả trạng thái này trong tài liệu: khi giá thị trường thấp hơn cận dưới hoặc cao hơn cận trên, hệ thống ngừng khớp lệnh, và chiến lược chạy lại khi giá quay vào trong khoảng. Toàn bộ phần giá tăng thêm phía trên 65.000 không được tính vào tài khoản, vì coin đã bán xong ở các mức thấp hơn.
Trong một đợt giá đi lên một mạch, bot vì thế có thể lãi ít hơn hẳn so với việc chỉ mua và giữ cùng tài sản đó. Cả hai đều lãi, nhưng bot ngừng tham gia từ mức 65.000 trở lên. Số dư lúc đó nằm ở dạng stablecoin, và bot chỉ đặt lệnh trở lại khi giá vào lại trong khoảng.
Trailing Up dời khoảng lên, và cận dưới dời theo
Có một tuỳ chọn xử lý riêng tình huống vượt lên trên. Theo tài liệu của Bybit, khi giá vượt cận trên thêm một bước, bot huỷ lệnh mua thấp nhất đang treo và đặt một lệnh mua mới ngay tại vị trí cận trên cũ. Cả khoảng giá dịch lên một bước. Giá lên tiếp thì việc này lặp lại, nên bot bám theo được phần nào của nhịp tăng thay vì đứng yên.
Điều kiện để chạy: lưới phải có tối thiểu 5 mức và tài khoản còn số dư để đặt lệnh mua mới. Cận dưới cũng bị dời lên theo, nên nếu giá quay đầu thì các lệnh mua đang chờ ở vùng giá cao hơn trước. Số coin nhận về khi giá lùi lại vì thế có giá vốn cao hơn so với lưới ban đầu.
7. Giá xuống dưới cận dưới: chỉ còn coin, khoản lỗ chưa đóng nằm nguyên
Chiều xuống chạy đúng quy tắc đó, nhưng trạng thái số dư cuối cùng thì ngược lại. Giá xuyên xuống 45.000, tất cả lệnh mua trong lưới đã khớp, tiền mặt dùng hết, tài khoản của bot chỉ còn BTC. Bot ngừng đặt lệnh mới vì giá nằm ngoài khoảng.
Số coin đó mua rải ở các mức 53.000, 49.000, 45.000 và các mức trung gian, nên giá vốn trung bình nằm đâu đó giữa khoảng. Giá thị trường thấp hơn giá vốn đó bao nhiêu thì đấy là khoản lỗ chưa đóng, và nó nằm nguyên trong tài khoản chừng nào chưa bán ra. Bot không xử lý gì cho khoản này.
Đây là chỗ nhiều người đọc nhầm màn hình. Ô lãi lưới chỉ đếm những cặp mua bán đã hoàn tất, nên nó vẫn dương trong lúc tổng tài khoản đang âm.
Bot grid giao ngay không có cơ chế thanh lý, vì mọi lệnh đều dùng số dư đang có. Trạng thái tệ nhất của bản giao ngay là đang giữ coin với khoản lỗ chưa đóng. Bản chạy trên hợp đồng thì khác hẳn ở chỗ này.
Nếu không cài điều kiện dừng, bot không tự bán ra để chặn lỗ. Ô cài điều kiện dừng nằm ở bản chạy trên hợp đồng: Binance cho đặt chốt lời và cắt lỗ (TP/SL) theo ba kiểu kích hoạt: theo mức giá, theo số tiền lãi lỗ, hoặc theo tỷ lệ ROI phần trăm; và cho chọn sau khi chiến lược kết thúc thì đóng hay giữ vị thế. Không cài thì không có điểm dừng nào tự xảy ra.
| Tình huống | Số dư trong bot | Bot làm gì | Ô lãi lưới hiển thị | Tổng lãi lỗ |
|---|---|---|---|---|
| Giá đi lại trong khoảng | Vừa có coin vừa có tiền | Mua bán liên tục theo từng mức | Cộng dồn tăng dần | Gần với số ở ô lãi lưới |
| Giá vượt lên trên cận trên | Hết coin, chỉ còn tiền | Ngừng đặt lệnh mới, hoặc dời khoảng lên nếu bật Trailing Up | Dừng lại ở mức đã tích được | Không tính phần giá tăng thêm phía trên |
| Giá xuống dưới cận dưới | Hết tiền, chỉ còn coin | Ngừng đặt lệnh mới | Vẫn dương | Có thể âm vì khoản lỗ chưa đóng |
| Bot hợp đồng, giá xuống dưới cận dưới | Vị thế đòn bẩy vẫn mở | Ngừng đặt lệnh mới, vị thế không tự đóng | Vẫn dương | Chịu thêm khoản thanh lý nếu ký quỹ cạn |
8. Cùng quy tắc đó chạy trên hợp đồng vĩnh cửu: giá ra khỏi khoảng mà vị thế vẫn mở
Bản chạy trên hợp đồng dùng đúng quy tắc đó: chia khoảng, treo lệnh giới hạn ở từng mức, khớp bên nào thì đặt lệnh ngược lại cách một bước. Bot giao ngay tạo ra số coin trong tài khoản, bot hợp đồng tạo ra vị thế trên hợp đồng vĩnh cửu, kèm đòn bẩy.
Theo tài liệu của Bybit, bot grid hợp đồng chạy trên hợp đồng vĩnh cửu USDT và cần hoàn tất xác minh danh tính mức tiêu chuẩn. Có ba chế độ. Chế độ trung lập treo lệnh bán phía trên giá hiện tại và lệnh mua phía dưới, bên nào khớp trước thì hướng vị thế theo bên đó. Chế độ long mở vị thế mua ban đầu rồi bán lại ở các mức trên. Chế độ short mở vị thế bán ban đầu rồi mua lại ở các mức dưới. Binance cho chọn ở chế độ long và short là có mở vị thế ban đầu ngay lúc tạo bot hay không.
Khác biệt quan trọng nhất xuất hiện đúng ở chỗ vòng lặp dừng. Bybit ghi rằng khi giá ra khỏi khoảng đã cài, bot ngừng đặt lệnh mới nhưng vị thế đang mở vẫn giữ nguyên, và nếu muốn đóng thì người dùng phải tự làm. Bản giao ngay dừng lại với coin trong tài khoản, bản hợp đồng dừng lại với một vị thế có đòn bẩy vẫn đang mở.
| Hạng mục | Bot grid giao ngay | Bot grid hợp đồng |
|---|---|---|
| Giao dịch bằng gì | Số dư đang có trong tài khoản | Hợp đồng vĩnh cửu, có ký quỹ |
| Đòn bẩy | Không có | Có, do người dùng chọn |
| Thanh lý | Không có cơ chế này | Có, khi tỷ lệ ký quỹ duy trì chạm 100% |
| Phí funding | Không phát sinh | Phát sinh theo từng chu kỳ funding, trả hoặc nhận |
| Trạng thái xấu nhất | Đang giữ coin với khoản lỗ chưa đóng | Vị thế bị thanh lý |
| Khi giá ra khỏi khoảng | Ngừng đặt lệnh mới | Ngừng đặt lệnh mới, vị thế vẫn mở |
| Số mức tối đa | Trần khác nhau tuỳ sàn | Trần riêng, khác với trần của bản giao ngay |
| Thủ tục | Theo yêu cầu tài khoản thông thường | Cần xác minh danh tính mức tiêu chuẩn |
Chế độ ký quỹ cũng đi kèm hệ quả riêng. Binance đếm hạn mức bot hợp đồng USDⓈ-M riêng cho từng kiểu ký quỹ tách biệt và toàn phần. Cách chọn giữa hai kiểu này quyết định phần số dư nào bị kéo vào khi vị thế của bot đi ngược.
9. Thanh lý khi tỷ lệ ký quỹ duy trì chạm 100%, và phí funding cộng vào từng chu kỳ
Hai khoản chi phí và rủi ro chỉ có ở bản hợp đồng, và cả hai đều cộng dồn theo thời gian bot chạy.
Thứ nhất là thanh lý. Bybit ghi rằng khi tỷ lệ ký quỹ duy trì chạm 100%, vị thế bị thanh lý. Vì bot mua thêm ở từng mức thấp hơn theo đúng quy tắc, phần vị thế mở lớn dần trong lúc giá đi xuống, và mức giá kích hoạt thanh lý tiến lại gần hơn. Cơ chế này giống hệt cơ chế đã mô tả trong bài về lý do một vị thế bị thanh lý, chỉ khác là các lệnh do bot đặt chứ không do tay người bấm.
Binance có thêm một chi tiết đáng biết về giá thanh lý dự kiến hiển thị lúc tạo bot: nó được tính với giả định toàn bộ lệnh trong lưới đã khớp hết. Con số đó vì thế đã bao gồm phần vị thế sẽ hình thành sau này, chứ không mô tả trạng thái ngay lúc bật bot.
Thứ hai là phí funding. Hợp đồng vĩnh cửu phát sinh khoản này theo từng chu kỳ, bên giữ vị thế có thể trả hoặc nhận tuỳ dấu của tỷ lệ funding ở chu kỳ đó. Bot chạy càng lâu thì số chu kỳ càng nhiều. Binance định nghĩa tổng lãi của bot grid hợp đồng bằng lãi đã thực hiện cộng lãi lỗ chưa thực hiện cộng phí funding, tức phí funding được tính thẳng vào con số tổng lãi của bot.
Bot grid giao ngay không có phần thanh lý, vì mọi lệnh đều dùng số dư sẵn có. Trạng thái tệ nhất của nó là đang giữ coin. Thanh lý và phí funding chỉ thuộc về bản chạy trên hợp đồng. Gộp hai bản làm một thì phần thanh lý và phí funding bị gán nhầm cho bản giao ngay.
Đòn bẩy cũng làm đổi độ lớn của khoản lỗ chưa đóng. Cùng một mức giá, cùng một khoảng lưới, phần lỗ chưa đóng trên vị thế có đòn bẩy lớn hơn nhiều lần so với bản giao ngay, trong khi ô lãi lưới của cả hai vẫn cộng dồn theo cách y hệt. Hai bot có thể hiển thị lãi lưới giống nhau trong khi khoảng cách tới điểm thanh lý hoàn toàn khác nhau.
10. Từ ngữ trên màn hình bot, giải nghĩa ngắn
Các từ dưới đây xuất hiện trực tiếp trên màn hình bot hoặc trong tài liệu của sàn. Tên tiếng Anh giữ nguyên trong ngoặc để dễ tìm đúng ô.
- Mức lưới: từng mốc giá mà bot treo lệnh. Số mức là một trong bốn ô phải điền.
- Bước giá: khoảng cách giữa hai mức liền nhau. Bằng khoảng giá chia cho số mức nếu chia theo kiểu số học.
- Phí hai chiều: phí của một lần mua cộng một lần bán trong cùng một vòng. Với phí 0,1% mỗi chiều, mỗi vòng mất 0,2 điểm phần trăm.
- Lệnh giới hạn: lệnh đặt sẵn ở một mức giá xác định, chỉ khớp khi giá chạm mức đó. Toàn bộ lệnh của bot grid thuộc loại này.
- Lãi lưới (Grid Profit): tổng lãi lỗ đã thực hiện của các cặp mua bán đã khớp xong, đã trừ phí.
- Tổng lãi lỗ (Total P&L): phần đã thực hiện cộng phí đã phát sinh cộng lãi lỗ chưa thực hiện của số coin hoặc vị thế còn giữ.
- Lãi lỗ hiện tại (Current P&L): phần đã thực hiện cộng phần chưa thực hiện, trừ đi phần lãi lưới đã rút ra khỏi bot.
- Lỗ chưa thực hiện: khoảng chênh giữa giá vốn trung bình và giá hiện tại của phần đang giữ, chưa chốt nên chưa thành tiền.
- Phần trăm theo năm (Grid APR): kết quả của quãng vừa chạy quy về một năm bằng cách nhân với 365.
- Trailing Up: tuỳ chọn dời cả khoảng giá lên một bước khi giá vượt cận trên, cần tối thiểu 5 mức và còn số dư.
- Chế độ trung lập, long, short (Neutral, Long, Short): ba cách khởi tạo vị thế của bot grid hợp đồng, để bên khớp trước quyết định hướng, mở sẵn vị thế mua, hoặc mở sẵn vị thế bán.
- Tỷ lệ ký quỹ duy trì (MMR): chỉ số theo dõi mức an toàn của vị thế hợp đồng. Chạm 100% thì vị thế bị thanh lý.
- Phí funding: khoản trả hoặc nhận theo từng chu kỳ khi giữ vị thế trên hợp đồng vĩnh cửu.

11. Grid Profit dương trong khi tổng lãi lỗ âm: mỗi ô đếm một thứ khác nhau
Trên màn hình bot có vài ô tên gần giống nhau, và chúng đếm những thứ khác nhau. Đọc nhầm ô nào là ô nào thì kết luận về bot cũng sai theo.
Theo định nghĩa của Binance, lãi lưới (Grid Profit) là phần lãi đã thực hiện của các cặp mua bán đã khớp xong, và đã trừ phí. Float Profit là chênh lệch giữa giá mua trung bình và giá hiện tại của phần đang giữ, tức phần chưa thực hiện.
Bybit chia chi tiết hơn. Lãi lưới là tổng lãi lỗ đã thực hiện của từng cặp đã khớp. Total P&L, tức tổng lãi lỗ, bằng lãi lưới đã thực hiện cộng phí đã phát sinh cộng lãi lỗ chưa thực hiện. Current P&L bằng lãi lỗ đã thực hiện cộng lãi lỗ chưa thực hiện trừ phần lãi lưới đã rút ra. Bybit nói rõ rằng khi đóng bot, giá trị phản ánh kết quả thật là tổng lãi lỗ, và trung tâm trợ giúp của họ có hẳn một mục riêng giải thích trường hợp lãi lưới dương mà tổng lãi lỗ âm.
| Ô trên màn hình | Nó đếm cái gì | Giá trị trong ví dụ của Bybit |
|---|---|---|
| Lãi lưới (Grid Profit) | Lãi lỗ đã thực hiện của các cặp mua bán đã khớp, đã trừ phí | 341,81 USDT |
| Phí trong vòng đó | Phí của cả lần mua và lần bán | 10,02 USDT |
| Phần trăm theo năm (Grid APR) | Phần lãi lưới của quãng vừa chạy quy về một năm | 528,42% |
| Tổng lãi lỗ (Total P&L) | Phần đã thực hiện cộng phí đã phát sinh cộng lãi lỗ chưa thực hiện của số coin còn giữ | 859,54 USDT |
Điều kiện của bộ số trên: cặp BTC/USDT, giá thị trường lúc tạo 54.000 USDT, cận trên 65.000, cận dưới 45.000, 5 mức lưới, tổng vốn 23.610 USDT, giả định bot chạy 24 giờ và giá đi từ 54.000 lên 57.000. Vì đây là trường hợp giá tăng, con số 859,54 đã gồm cả phần lãi chưa đóng của số BTC bot vẫn đang giữ.
Đảo chiều giá thì phần đó đảo dấu. Vẫn ví dụ của Bybit với đúng bộ số trên, nhưng giá đi xuống thay vì lên 57.000: ô tổng lãi lỗ được thay bằng một khoản lỗ chưa đóng, trong khi ô lãi lưới vẫn hiện 341,81 USDT vì các cặp đã khớp không bị ảnh hưởng bởi giá sau đó. Người xem thấy một ô dương và một ô âm cùng lúc, cả hai đều đúng theo định nghĩa của chúng.
Ô lãi lưới đếm số cặp mua bán đã khớp xong và phần còn lại của mỗi cặp. Ô tổng lãi lỗ cho biết đóng bot ngay lúc đó thì tài khoản dôi ra hay hụt đi so với lúc bắt đầu.
12. Phần trăm theo năm trên màn hình: quãng vừa chạy đem nhân cho 365
Con số phần trăm theo năm hiển thị trên thẻ bot thường lớn tới mức gây chú ý. Cả hai sàn đều công bố công thức tạo ra con số đó.
Bybit: phần trăm theo năm (Grid APR) = (lãi lưới ÷ tổng vốn) ÷ số ngày đã chạy × 365. Thay bộ số trong ví dụ của Bybit vào: (341,81 ÷ 23.610) ÷ 1 × 365 = 528,42%, với giả định bot chạy tròn 24 giờ. Phần trong ngoặc là 1,45%, tức phần lãi lưới đã thực hiện của một ngày. Nhân 365 thành 528,42%.
Binance: tỷ suất theo năm = tổng lãi ÷ tổng vốn × 365 × 24 × 60 ÷ số phút đã chạy. Cấu trúc giống hệt, chỉ đổi đơn vị thời gian sang phút. Vì số phút nằm ở mẫu, bot chạy càng ngắn thì con số hiện ra càng lớn. Một bot mới bật vài giờ và khớp được đôi vòng có thể hiện tỷ lệ rất cao, đơn giản vì mẫu số nhỏ.
Con số đó giả định rằng điều kiện của quãng vừa chạy lặp lại suốt 365 ngày. Mà điều kiện để các cặp mua bán khớp liên tục là giá đi lại trong khoảng đã cài. Chưa có gì bảo đảm quãng tiếp theo giống quãng vừa rồi, và nếu giá đi thành xu hướng một chiều thì các cặp mua bán ngừng khớp trong khi ô phần trăm vẫn giữ giá trị cũ tính từ các vòng đã đóng.
Vì vậy khi so sánh hai bot với nhau, so ô phần trăm theo năm của một bot chạy hai ngày với một bot chạy hai tháng là so hai thứ khác nhau. Số ngày đã chạy nằm ngay cạnh đó trên màn hình, và đọc kèm số ngày thì con số phần trăm mới có nghĩa.
Số ngày bot đã chạy, ô lãi lưới và ô tổng lãi lỗ. Ô đầu cho biết mẫu số của phép nhân 365, hai ô sau tách phần đã đóng và phần chưa đóng. Thiếu một trong ba thì phần trăm theo năm không diễn giải được.
13. Tham số gợi ý tự động được tính từ bao nhiêu ngày giá đã qua
Nhiều màn hình tạo bot có nút điền tham số tự động, đặt tên kiểu tham số thông minh hoặc chiến lược gợi ý. Các giá trị đó được tính từ dữ liệu giá đã xảy ra.
Với bot grid giao ngay của Binance, bộ tham số tự động dựng từ nến ngày, dùng dải Bollinger với 3 độ lệch chuẩn để ra cận trên, cận dưới và số mức, và người dùng chọn quãng nhìn lại là 7 ngày, 30 ngày hay 180 ngày. Với chiến lược thông minh của bot grid giao ngay bên OKX, ba lựa chọn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tương ứng với việc chạy thử trên dữ liệu 7 ngày, 20 ngày và 90 ngày rồi đề xuất khoảng giá và số mức.
Điểm chung của hai cách: biên độ giá đã đi trong quãng vừa qua được lấy làm khoảng giá cho quãng sắp tới. Đó là một giả định rõ ràng, và giả định này không còn đúng khi giá chuyển sang đi một chiều. Chọn quãng nhìn lại dài hơn cho khoảng rộng hơn, bước giá do đó rộng hơn và số vòng khớp ít hơn; chọn quãng ngắn cho khoảng hẹp, bước hẹp, và phí chiếm tỷ trọng lớn hơn trong mỗi vòng.
Nút điền tự động không kiểm tra giúp phần phí của tài khoản. Bậc phí và cách trả phí là dữ kiện riêng của từng người, còn ngưỡng hoà vốn thì tính từ chính bậc phí đó. Vì vậy bước giá do tham số gợi ý đưa ra có thể nằm trên hoặc nằm dưới ngưỡng hoà vốn của chính tài khoản đó.
Bộ tham số tự động cũng không biết tài sản đang xét là gì. Nó xử lý chuỗi giá, không phân biệt đó là bitcoin hay một token vốn hoá nhỏ vừa lên sàn. Phần đánh giá tài sản và độ tin cậy của nơi giao dịch nằm ngoài phạm vi của bot.
14. Những việc bot không tự làm, và mấy câu hay nghe về bot grid
Những việc nằm ngoài khả năng của bot đều suy ra từ chính quy tắc đó.
Bot không tự đặt lại khoảng giá khi giá đi ra ngoài, trừ trường hợp bật trailing up và cũng chỉ dời được lên trên. Bot không thoát ra khi giá giảm mạnh, các lệnh mua ở mức thấp hơn vẫn được đặt như cũ. Bot không tự cắt lỗ nếu người dùng không cài điều kiện dừng. Bot không chọn giúp cặp giao dịch. Và không có cấu hình nào tạo ra được điều kiện cốt lõi, tức việc giá đi lại nhiều lần trong khoảng đã cài.
| Câu hay nghe | Thực tế theo tài liệu của sàn |
|---|---|
| Bot tự mua ở đáy và bán ở đỉnh | Trong bot không có phần nào xác định đâu là đáy hay đỉnh. Lệnh nằm sẵn ở các mức đã tính từ trước, và khớp khi giá chạm tới |
| Lãi mấy trăm phần trăm một năm | Ô phần trăm theo năm lấy kết quả của quãng vừa chạy nhân với 365, nên quãng chạy càng ngắn con số hiện ra càng lớn |
| Chạy tự động nên không phải theo dõi | Việc chọn khoảng giá, xử lý khi giá ra ngoài khoảng và quyết định lúc dừng vẫn thuộc về người dùng |
| Chia càng nhiều mức càng lãi nhiều | Bước hẹp lại thì phí hai chiều chiếm tỷ trọng lớn hơn, và dưới ngưỡng hoà vốn thì mỗi lần khớp là một lần lỗ |
| Bot có sẵn chức năng cắt lỗ | Không cài chốt lời và cắt lỗ thì không có điểm dừng nào tự xảy ra |
| Bản hợp đồng hiệu quả hơn vì có đòn bẩy | Cùng quy tắc nhưng cộng thêm thanh lý và phí funding vào bài toán |
| Dùng bot phải trả phí hằng tháng | Sàn không thu thêm khoản nào cho việc tạo và chạy bot. Chi phí là phí giao dịch tính mỗi lần khớp |
Trên cùng khu vực màn hình còn vài công cụ tự động khác, và chúng giải bài toán khác hẳn. Mua định kỳ (DCA) chia tiền theo thời gian chứ không theo mức giá. Copy trading chép lệnh của người khác, tức vẫn có phán đoán của con người ở đâu đó. Các sản phẩm sinh lãi trả lãi trên số coin gửi vào và không tạo lệnh nào trên sổ. Danh sách đầy đủ các mục này nằm trong bài về các tính năng của Binance. Sản phẩm hiển thị có thể khác nhau theo khu vực, nên phần nhìn thấy trên màn hình của mỗi người là căn cứ chính xác nhất.
Một lưu ý cuối về an toàn: bot grid là tính năng có sẵn trong tài khoản sàn, không cần giao khoá API cho bên thứ ba, không cần nạp tiền cho ai để chạy hộ. Lời mời chạy bot giúp với cam kết lợi nhuận là dạng đã có trong bài về các kiểu lừa đảo tiền mã hoá.
Phí của tài khoản làm đổi phép tính
Ngưỡng hoà vốn tính trực tiếp từ phí, nên biểu phí và cách giảm phí của từng sàn quyết định bước giá nhỏ nhất còn để lại tiền. Bốn sàn dưới đây đều công bố biểu phí và cách giảm phí trên trang phí của mình. Thẻ có chứa liên kết tiếp thị, và việc đăng ký qua liên kết nào không làm thay đổi cách bot tính lãi.
Binance
Bybit
OKX
MEXC
Công thức, định nghĩa và các giá trị giới hạn dẫn ở trên lấy từ trung tâm trợ giúp của Binance, Bybit, OKX và KuCoin.








